14/10/2011 - Hôm nay, mọi người quy tụ để mừng sinh nhật thứ 178 trên trời của Cha Thánh Phêrô Lê Tùy.
12/06/2020 07:14

Từ năm 2006, đền thánh Phêrô Lê Tùy tại Bằng Sở đã được Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt đặt làm Trung Tâm Hành Hương Các Thánh Tử Đạo của Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Đặc biệt, năm nay, lễ mừng cha Thánh được tổ chức bởi Giáo hạt, thay vì ở cấp độ giáo xứ như mọi năm.
Chúng ta về đây vui như đi hội. Nhưng không phải như là người ta đi hội Phủ Dầy, hội Chùa Hương, hội Đền Hùng. Chúng ta về đây để chiêm ngắm đời sống của một vị chứng nhân anh hùng, để rồi khi trở về chúng ta có một quyết tâm thay đổi đời sống để xứng đáng là con cháu của cha Thánh. Vì vậy, chủ đề chia sẻ của chúng ta hôm nay là: Tử Đạo, hôm qua và hôm nay.
I/ Tử Đạo hôm qua.
Lịch sử Giáo Hội Việt Nam từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, dưới thời các vua Trịnh Nguyễn (1745-1773), Cảnh Thịnh (1798), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), và Tự Đức (1848-1883) ghi nhớ tất cả 53 Sắc chỉ chính thức do các vua ban hành nhằm khai trừ và tiêu diệt đạo Thiên Chúa. Người ta ghi nhận trong thời gian cấm cách này có khoảng hơn 130.000 kitô hữu Tử Đạo, trong số đó 117 vị đã được tuyên phong hiển thánh (8 Giám Mục, 50 linh mục, 59 giáo dân).
Nhà cầm quyền thời đó đã dùng mọi hình phạt dã man để khủng bố tinh thần các Thánh Tử Đạo Việt nam, nhưng các Ngài đã vui lòng đón nhận vì Chúa. Không có hình phạt nào có thể tách rời các Ngài ra khỏi tình yêu của Chúa. Đúng như lời Thánh Phaolô: "Cho dầu sự sống hay sự chết, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 8, 37-39).
* Chúng ta hãy nhìn lại một số hình phạt man rợ mà con người có thể nghĩ ra để hành khổ các vị Tử Đạo của chúng ta.
a- Bá đao : bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho đủ 100 miếng. Có một vị bị xử theo cách này.
b- Lăng trì : chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu. Có 4 vị bị xử theo cách này.
c- Thiêu sinh : bị thiêu sống. Có 6 vị bị xử theo cách này.
d- Xử trảm : bị chém đầu. Có 75 vị bị xử theo cách này.
e- Xử giảo : bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết. Có 22 vị bị xử theo cách này.
f- Chết rũ tù : bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Có 9 vị bị xử theo cách này.
Chúng ta rùng mình khiếp sợ vì những hình khổ mà nhà cầm quyền thời đó đã nghĩ ra để tra tấn các vị Tử Đạo. Nhưng chúng ta cũng kiêu hãnh tự hào vì sự kiên cường của các vị Tử Đạo cha ông chúng ta.
Người ta tưởng rằng với những hình khổ như vậy, Giáo Hội sơ khai sẽ tan rã, không còn ai dám theo đạo nữa, nhưng họ đã lầm. Các vua chúa đã lần lượt ra đi. Các vương triều đã dần dần sụp đổ, chỉ có giáo hội vẫn trường tồn, hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
Trong số 117 vị hiển Thánh Tử Đạo, một nửa (58 vị) đã bị hành quyết trong vòng 20 năm vua Minh Mạng cầm quyền (1820-1841). Trong 20 năm trị vì vua Minh Mạng đã ban hành 7 Sắc chỉ cấm đạo). Thánh Phêrô Lê Tùy được vinh dự mở đầu trang sử đẫm máu dưới thời đại của vị vua này.
Chúng ta có bằng chứng rất sống động đó là tấm thẻ bài ghi bản án của vua Minh Mệnh gửi cho các quan tỉnh Nghệ An. Bảng gỗ này hiện đang được lưu giữ tại chủng viện thừa sai Paris. Bản án của Ngài ghi như sau:
"Tên Tùy là Lê Tùy thuộc tỉnh Hà Nội, phủ Thường Tín, huyện Thanh Trì, tổng Minh Xã, làng Bình Sơ. Tội nhân là người An Nam, đã theo đạo ngoại quốc từ lâu và tự xưng mình là linh mục, đi vào nhiều làng để khuyên dụ dân chúng. Nên đã bị bắt và xét xử công minh. Bản án vua ra là phải trảm quyết".
Chúng ta cùng đọc lại hạnh tích của Ngài và bản án mà vua Minh Mệnh ban ra để thấy những nét nổi bật trong đời sống của vị chứng nhân.
Bản án, sau khi cho biết về tên, quê quán, còn cho thấy mấy điểm nổi bật sau đây:
1/ Ngài là một người có đạo.
2/ Ngài là một linh mục.
3/ Bị bắt và bị trảm quyết.
4/ Câu nói bất hủ của Ngài: Tôi không sợ chết.
Chúng ta lần lượt nói về từng điểm một chiêm ngắm vị anh hùng tử đạo của chúng ta.
1/ Trước hết, bản án ghi: Tội nhân là người An Nam, đã theo đạo ngoại quốc từ lâu. Bản án khẳng định Ngài là người có đạo, nhưng có phải là đạo ngoại quốc không, có phải là tà đạo không?. Thưa không.
Các vị Tử đạo và chúng ta không theo đạo ngoại quốc. Cuốn giáo lý đầu tiên cho người Công giáo Việt Nam, cuốn "Phép giảng tám ngày" (1651) của cha Đắc Lộ đã khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa, đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo Phú Lãng Sa (ngày xưa nước Pháp còn được gọi là Phú Lãng Sa hoặc Tây). Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-86), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong cuốn "Hội đồng tứ giáo", hai linh mục Gia và Liêm đã trả lời vấn nạn "Đạo Hoa Lang (Hòa Lan) là đạo ngoại quốc" rằng: "Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang, đạo chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết". Linh mục Vũ Bá Loan khẳng khái trả lời trước mặt các quan rằng : "Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi".
Chúng ta tuyên xưng giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Đạo chúng ta là công giáo, nghĩa là đạo cho tất cả mọi người. Chúng ta tuyên xưng và tôn thờ Một Thiên Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng ta cũng tuyên xưng niềm tin chung với cha ông chúng ta. Chúng ta quy tụ ở đây trong tình hiệp thông của những con cái Thiên Chúa, là con một Cha, anh em một nhà. Ngày hôm nay thật là vui, thánh vịnh nói: "ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau" (Tv 133).
2/ Ngài là một linh mục, vâng, một linh mục thánh thiện nhiệt thành. Hạnh tích của Ngài kể lại: Ngày 25.6.1833, cha Tùy đến xức dầu cho một bệnh nhân gần chết ở họ Thanh Trai. Đây là một họ đạo nhỏ, chen giữa làng mạc của lương dân. Một nhóm người ngoại giáo đã bắt cha nộp cho quan huyện Thanh Phương. Giáo hữu điều đình bỏ tiền xin chuộc, nhưng quan đặt điều kiện cha phải khai mình là thày thuốc, chứ không phải là linh mục. Một hôm quan án đòi cha ra công đường và nói: "Ông là đạo trưởng Gia Tô?". Cha đáp: "Phải, tôi là đạo trưởng". Ngài đã có thể được sống nếu như chấp nhận nói dối. Không, Ngài đã sống lời Chúa Giêsu: "có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỉ mà ra" (Mt 5,37). Ngài đã đi theo Chúa Giêsu "là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". Ngài nói gương Chúa Giêsu đến để "làm chứng cho sự thật" (Gio 14,6).
3/ Ngài bị trảm quyết: phúc Tử Đạo... Vì nói sự thật, làm chứng cho sự thật, Cha bị đóng gông áp giải về tỉnh đường Nghệ An. Ngày 10.10.1833, các quan tỉnh Nghệ An nhận được sắc chỉ của vua và bản án đó là "phải trảm quyết".
Nhận được tin báo Cha Thánh vui vẻ nói : "Bấy lâu nay thật tôi không dám đợi trông ơn lớn lao như vậy". Nhận bản án tử hình mà vui vẻ. Thật là một chứng nhân anh hùng. Ai có thể có được thái độ như thế ngoài các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
Sáng hôm sau 11.10.1833, cha Tùy tiến ra pháp trường chợ Quân Ban như đi dự hội, vẻ mặt vui hớn hở, đến nỗi dân đi xem và quân lính đều nói : "Xưa nay chưa thấy ai bị đem đi xử mà lại can đảm như thế". Hình ảnh cha Thánh bị đóng gông giải ra pháp trường gợi lại cho chúng ta con đường Thập Giá, con đường mà Thày Chí Thánh Giêsu đã đi. Thánh Phêrô Lê Tùy đã thực hiện lời Chúa Giêsu: "Ai muốn theo Thày, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo" (Mt 16,24).
Nơi pháp trường, sau khi cầu nguyện, Ngài nói: "Tôi đã sẵn sàng". Tiếng thanh la vừa dứt, một người lính vung gươm, đầu vị tử đạo rơi xuống. Triều thiên công chính đã giành cho Cha (2Tim 4,8). Người ta kể rằng, ngay lúc ấy trời bỗng bị mây bao phủ và những người lý hình nói thầm với nhau: "Người này có phải là một vị thần không mà trời ra tối tăm làm vậy?". Không, Ngài không phải là một vị thần. Ngài một con người như chúng ta, nhưng là con người thần thánh. Vâng, chỉ có con người thần thánh như các thánh Tử Đạo mới có thể coi cái chết nhẹ như lông hồng. Chỉ có con người thần thánh mới có được thái độ can đảm, can đảm đến độ anh hùng như vậy trước cái chết.
Ngày 27.05.1900, Đức Lêo XIII suy tôn Cha Phêrô Lê Tùy lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn Ngài lên hàng Hiển Thánh.
Ngài đã sống cao thượng và biết hy sinh tính mạng vì Ðức Tin, thật xứng đáng để Thánh Vịnh ngợi ca:
"Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau sẽ khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo
Lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng". (Tv 126)
Gánh lúa vàng đó là Giáo hội. Gánh lúa vàng đó là chúng ta, con cái của Ngài đang tập hợp ở đây. Gánh lúa vàng đó là bao ân huệ mà bao người đã được lãnh nhận nhờ lời cầu bầu của Cha Thánh. Chúng ta chỉ cần nhìn vào những tấm bảng tạ ơn đủ nhận ra điều đó. Hàng ngàn, hàng ngàn những tấm bảng tạ ơn, giáo cũng như lương đã, đang và sẽ được gắn lên như là bằng chứng mùa lúa vàng bội thu mà Cha Thánh đã vất vả vãi gieo. Đúng như lời của ông Tertuliano đã nói: "máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu". Hôm nay chúng ta đến đây, hãy cầu xin với cha Thánh, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được, chắc chắn không ai chúng ta phải ra về tay không!
4/ Câu nói bất hủ của Ngài: tôi không sợ chết.
Mọi người đều qúi trọng sự sống, dù chỉ là cuộc sống vắn vỏi phù du. Người ta quý trọng sự sống bởi vì sự sống là một ân huệ Thiên Chúa ban. Rất nhiều người sợ chết. Tuy nhiên, có những người không sợ chết, đó là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là Cha Thánh Phêrô của chúng ta với câu nói bất hủ: Tôi không sợ chết.
Bởi đâu Cha Thánh và các vị Tử đạo có được lòng can đảm như vậy? Thưa: Nhờ Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng các Ngài tôn thờ và mến yêu. Chính Thiên Chúa đã ban sức mạnh cho Ngài hằng ở với Ngài: "Thày ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,16). Chính Chúa Giêsu đã báo trước cuộc tử đạo của môn đệ "anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết" (Mt 10,18). Chúa đã khích lệ các Ngài "Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian!" (Ga 16,33). Và Chúa đã hứa: "Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em" (Mt 10,19-20).
Chính Thiên Chúa hoạt động nơi các vị Tử Đạo. Có thể nói, Thiên Chúa Tử Đạo nơi các vị Tử Đạo. Nói như Thánh Phaolô: "không còn là tôi sống mà là Chúa sống trong tôi" (Gal 2,20). Chính sức mạnh của Thiên Chúa nâng đỡ các vị Tử Đạo để các Ngài có được sức mạnh của niềm tin, của đức cậy, của đức mến, để can đảm và sẵn sàng dấn thân cho một cuộc tình, cuộc tình tử đạo, để có thể nói lên: tôi không sợ chết. Đúng là tình yêu mạnh hơn sự chết.
Được tình yêu Chúa Kitô thúc bách, Ngài có thể hát lên "Tình yêu hùng mạnh như tử thần, lòng ganh tị của tình yêu mãnh liệt như âm phủ, ngọn lửa tình yêu là ngọn lửa hào hùng nung nấu. Tình yêu, dù thác lũ cũng không thể dập tắt, dù hồng thủy cũng không thể nhận chìm" (Diệu ca 8,67.)
Chắc chắn việc Ngài sẵn sàng chết không phải vì Ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu. Với cái chết của mình, cha ông chúng ta đã cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngõ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong lòng người dân Việt: "sống gởi, thác về".
Thánh Phêrô Lê Tùy đã thể hiện và chứng minh câu nói của Chúa : "kẻ nào muốn cứu lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta thì sẽ cứu được nó... Được lợi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì" (Mc 8,35-36).
2/ Tử đạo hôm nay.
Các nhà thần học nói: "Hội Thánh luôn ở trong tình trạng tử đạo" .
Kinh nghiệm cho biết Giáo Hội của Chúa bao giờ cũng được khai sinh, lớn lên và phát triển bằng đau khổ và tử đạo. Thật vậy, chính Chúa Kitô là vị Tử Đạo đầu tiên, đã khai sinh Giáo Hội bằng cái chết đau thương trên Thập Giá. Chúa phán : "Khi nào Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi sự về với Ta" (Ga 12,22). Từ ngày đó, Giáo Hội nhiệm thể Chúa Kitô cũng phải đổ máu làm chứng về Chúa để mọi người được ơn cứu chuộc. Giáo Hội sơ khai với cuộc tử đạo của thánh Stêphanô (Cv 7). Giáo Hội Rôma với bao thánh Tử Đạo dưới thời hoàng đế Néron. Và Giáo Hội Việt Nam chúng ta, một Giáo Hội non trẻ, cũng đã trải qua 300 năm bách hại, nhưng vẫn hiên ngang và kiên cường lớn mạnh và còn lớn mạnh nữa. Quả thật, "máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu" (Tertuliano).
Có thể nói Giáo Hội đã được dựng xây trên mồ của các thánh Tử Đạo. Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican là một thí dụ, đền thờ đó đã được xây dựng chính trên mồ của Thánh Phêrô. Quả thật, trên đá Phêrô, vị Tông Đồ Tử Đạo, Chúa đã xây hội Thánh của Ngài và "quỷ hỏa ngục có dấy lên cũng không thể chống nổi" (Mt 16).
Nếu như các nhà thần học nói : "Hội Thánh luôn ở trong tình trạng tử đạo". Ta phải hiểu như thế nào? Phải chăng Hội Thánh lúc nào cũng phải chịu bắt bớ, bị đọa đầy ? Chắc không phải thế. Vậy chúng ta phải hiểu như thế nào?
Từ xưa đến nay, mỗi khi nói đến Tử Đạo, người ta thường luôn liên tưởng tới việc bắt bớ, tù đầy, máu chảy đầu rơi. Cách hiểu đó không sai nhưng chưa đầy đủ ý nghĩa.
Trong hiến chế Lumen Gentium, công đồng Vat II chỉ dùng chữ Tử Đạo 6 lần và theo một ý nghĩa riêng biệt, với chiều kích rộng lớn phổ quát, tuy vẫn qui chiếu vào ý niệm tử đạo có từ trước. Theo công đồng, tử đạo là được đồng hoá với Thầy mình, sẵn sàng chết để cứu độ trần gian, và cũng như Thầy, đổ máu đào ra để làm chứng cho việc đó. Hội thánh coi tử đạo là ơn cao cả, là bằng chứng tột đỉnh về đức tin. Chẳng mấy ai được phúc này, nhưng ai ai cũng phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt thế gian, và theo Người trên con đuờng thập giá, giữa những cơn bắt bớ thường xẩy ra cho Hội thánh (LG 42).
Thông thường, khi nói đến những người tử Đạo là chúng ta nghĩ đến những người hy sinh mạng sống mình để trung thành với Đạo, để bảo vệ niềm tin. Tuy nhiên có người không phải chết vẫn được phụng vụ tôn vinh như là vị Tử Đạo. Đó là Đức Maria. Trong lễ Mẹ Sầu Bi Giáo Hội đã hát lên: Mẹ xứng đáng lãnh nhận ngành lá tử đạo, dưới chân Thập Giá Chúa mà không phải chết. Tại sao Mẹ được gọi là tử đạo, Thưa, vì Mẹ đã thông phần đau khổ với Chúa Kitô. Và trong lịch sử Giáo Hội, có những người hi sinh mạng sống mình mà không liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ niềm tin, cũng được kể như là những người Tử Đạo, chẳng hạn, thánh Maria Goretti (người Ý) chết năm 1902 để bảo vệ đức đồng trinh; thánh Maximilian Kolbe (người Ba Lan) chết năm 1941 trong trại tập trung của đức quốc xã để thay cho một người còn mang gánh nặng gia đình; tổng giám mục Oscar Romeo (người El Salvador) chết năm 1980 vì lên tiếng bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền, và công bình xã hội. Như vậy có thể nói có nhiều cách thế tử đạo khác nhau. Cái chết "vì đạo" của người Tử Đạo chỉ là một cách thức làm chứng mà thôi. Vì thế chúng ta thường nghe nói đến ba khái niêm về Tử Đạo.
• Tử đạo đỏ: là đổ máu ra chịu chết để làm chứng cho Chúa.
• Tử đạo trắng: sống trinh khiết, hãm mình trong đời sống dâng hiến để làm chứng cho Chúa.
• Tử đạo xanh: chịu đọa đầy, đau khổ để làm chứng cho Chúa.
Ba cách thế tử đạo này chung quy lại cũng chỉ là "làm chứng cho Chúa" đó chính là nghĩa rộng của hai từ "Tử Đạo".
Thật vậy "Tử đạo", tiếng La tinh là "Martyr", có nghĩa là "làm chứng".
Xưa nay có lẽ chúng ta đã quen đi với cách thức phân biệt các thánh Tử Đạo với các thánh Giáo Phụ, Hiển Tu, Đồng Trinh vv... Nhưng chúng ta quên rằng thánh nào cũng là thánh, và thánh nhân Kitô giáo nào cũng trước tiên phải là chứng nhân của Tin mừng, hay nói cách khác, chứng nhân của Chúa Kitô.
Trong buổi tiếp kiến chung ngày 2 tháng 10 năm 1974, Đức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng "con người thời nay muốn nghe các chứng nhân hơn các thầy dạy, và nếu họ nghe các thầy dạy, bởi vì các thầy dạy là các chứng nhân". Điều đó cho thấy Đức Thánh Cha đề cao tầm quan trọng của các chứng nhân trong Hội Thánh. Ngài đề cao việc làm hơn là lời nói. "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2, 14-16). Chính Chúa đã nói: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi" ( Mt 7, 21). Việt nam ta có câu "Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo".
Chúng ta thường nói đến việc "Tử Đạo", trong khi ít quan tâm đến việc "sống Đạo". Những người Tử Đạo trước hết phải là những người sống Đạo cách thành tâm nhất. Không có chuyện Tử Đạo mà lại không sống Đạo. Không có kinh nghiệm về Đạo thì không có chuyện tử Đạo. Không có vị thánh nào Tử Đạo mà không sống Đạo. Như thế, sống Đạo và Tử Đạo là hai mặt của cùng một thực tại. Những người tử Đạo "đã chết khi đang sống". Nghĩa là họ đã hi sinh tất cả cho Đạo bằng đời sống chứng tá của mình. Giây phút "tử Đạo", theo như cách hiểu thông thường (bá đao, lăng trì, thiêu sinh, trảm, giảo, rũ tù...), có thể xem như giây phút có tính chung quyết nhất, giây phút kết thúc "tiến trình sống đạo và tử Đạo".
Hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng chúng ta vẫn được mời gọi trở nên những chứng nhân tử đạo trong đời sống hằng ngày. "Anh em hãy là chứng nhân cho Thày" (Cv 1,8). Làm chứng nhân cho Thày bằng cách nào? Trước hết bằng việc đón nhận những Thánh giá hằng ngày để đi theo Chúa. "Ai muốn theo Thày, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo" (Lc 9,23). Theo Chúa là phải từ bỏ mình, chấp nhận mọi gian nan khốn khó và phải thực thi công bình và bác ái, xa tránh mọi tội lỗi để trở nên men, muối và ánh sáng của Chúa Kitô trong một thế giới đang bị ung thối vì tội ác và bao phủ với mây mù của sự dữ. Sống như vậy, là chúng ta đang trải qua cuộc tử đạo tuy âm thầm nhưng cũng đầy cam go và quyết liệt. Sống như vậy đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, phải mục nát, phải "tử đạo" một cách nào đó. Nhưng chúng ta sẽ trở thành của lễ dâng lên Thiên Chúa như lời bài hát mà chúng ta thường nghe. "Chúa ơi! Thân con là thân lúa miến, gieo vào dòng đời và mục nát với thời gian. Bông lúa vàng kết thành tấm bánh và thân con trở thành hiến vật, nguyện dâng Cha như lễ toàn thiêu". Tâm tình ấy rất hay và thực tế vì như Chúa Giêsu đã nói: "Nếu hạt lúa gieo xuống đất mà không mục nát đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó mục nát đi, nó sẽ sinh được nhiều bông hạt khác" ( Ga 12, 24).
Nếu hiểu hy sinh, từ bỏ, chấp nhận thiệt thòi là những hành vi bày tỏ đời sống của một cuộc tử đạo âm thầm, thì có thể nói khi chúng ta chia sẻ những khó khăn với người thân trong gia đình, dòng tộc, làng xóm và những người bất hạnh khắp đất nước. Đó cũng là những hành động "tử đạo". Vì đó là những hy sinh, những mất mát để giúp cho bà con, xóm giềng, những người già yếu, cô đơn, những người gặp cảnh hoạn nạn... có thêm cơ hội để sống và sống đúng với nhân phẩm của mình.
Thế giới ngày nay đang ngụp lặn trong "văn hóa sự chết" như Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói. Thật vậy, chủ nghĩa tương đối cùng với chủ nghĩa hưởng thụ đang lừa dối con người tới mức coi thường mọi giá trị luân lý, đạo đức để từ đó quyến rũ con người ở khắp nơi lao mình đi tìm tiền của, thú vui và hư danh trần thế bằng mọi giá, bất chấp lương tri và đạo đức. Các giá trị gia đình truyền thống bị vi phạm nghiêm trọng. Những vấn đề sống thử, phá thai, thê thiếp, ngoại tình... đã trở thành khá phổ biến trong xã hội; thì sống ơn gọi kitô hữu trong đời sống gia đình quả là rất gay go. Giữa một thế giới gian tà và sa đạo, Thánh Phêrô mời gọi chúng ta "Anh em hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ có vu khống, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa" (1 Pr 2,12).
Sống trong một thế giới của "văn hóa sự chết", giữa biết bao nhiêu người tôn thờ chủ nghĩa hưởng thụ vật chất và vui thú vô luân, kitô hữu lại được mời gọi sống vì gia đình, vì người khác quả là một thách đố. Vì vậy, lựa chọn sống theo giáo huấn của Chúa là một hình thức "lội ngược dòng" cho nên đòi hỏi sự hy sinh rất lớn. Sống như thế cũng là tử đạo, tức là hy sinh, từ bỏ vì niềm tin tôn giáo, vì hạnh phúc của gia đình.
Và cuối cùng, lẽ đương nhiên, tử đạo là đặt Chúa lên trên hết mọi chọn lựa. Nghĩa là lấy Đức Chúa Trời làm hơn của cải, hơn cha mẹ, hơn mình cùng thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Đức Chúa Trời (Bổn dạy những lẽ cần cho được rỗi linh hồn, Địa phận Hà Nội).
Ngày nay, chúng ta phải sống trong môi trường xã hội đảo điên, tiền bạc chi phối mọi sinh hoạt đời sống xã hội. Chúng ta sẽ bị thách thức rất nhiều trước những chọn lựa. Nếu chọn Chúa và đặt Chúa lên trên hết mọi sự, chúng ta sẽ chịu thiệt thòi rất nhiều. Có những người vì chọn Chúa mà mất công ăn việc làm, mất địa vị xã hội, mất những đặc quyền ưu tiên, bị phân biệt đối xử. Vì vậy việc chọn lựa theo Chúa không hề dễ dãi hơn so với việc chọn lựa tử vì đạo như các cha ông chúng ta. Cho nên người ta cũng gọi những từ bỏ "thế gian" và "ác thần" là những chọn lựa tử đạo.
Như vậy, nếu tử đạo (martyr) theo nghĩa nguyên thuỷ là nhân chứng thì ngày nay chúng ta cũng đang được mời gọi sống ơn gọi tử đạo, nghĩa là làm nhân chứng giữa xã hội bằng đời sống đạo của chúng ta. "Anh em hãy là chứng nhân cho Thày" (Cv 1,8). Giữa một thế giới mà người ta đang sống theo chủ nghĩa "mackeno", nghĩa là: mặc kệ nó. Sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi. Chúa mời kêu mỗi người chúng ta trở thành "muối" ướp mặn trần gian, muối của đậm đà tình làng nghĩa xóm, muối của tình người, tình dân tộc, muối của tình yêu thương nhau; "Giữa một thế giới gian tà và sa đọa, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao giữa thế gian" ( Pl 2, 15). Trở thành "ánh sáng", thứ ánh sáng của Chúa, ánh sáng của yêu thương thứ tha, của rộng lượng bao dung, của ngay thẳng thật thà, của hy sinh phục vụ...
"Chính anh em là muối cho đời... là ánh sáng cho trần gian.., ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,13-16).
Xin Cha Thánh Phêrô Lê Tùy cầu cùng Chúa cho chúng con. Amen.
*Ghi chú: bài thuyết trình này có xử dụng một số tài liệu tìm được trên Internet.
Bằng Sở, ngày 11/10/ 2011.
Lm. Bruno Phạm Bá Quế
http://www.tonggiaophanhanoi.org/suy...qua-va-hom-nay