
Hình dung từ "thánh" áp dụng cho Thiên Chúa gợi lên cái gì trong tâm trí người Do thái? Thành ngữ "gìn giữ trong danh Cha" (c.11 và 12) có ý nghĩa gì? Các môn đồ "không thuộc về thế gian" theo nghĩa nào (c. 14)? Ai là "con người hư đốn" mà Chúa Giêsu ám chỉ ở c.12?
12/06/2020 07:14

Hình dung từ "thánh" áp dụng cho Thiên Chúa gợi lên cái gì trong tâm trí người Do thái? Thành ngữ "gìn giữ trong danh Cha" (c.11 và 12) có ý nghĩa gì? Các môn đồ "không thuộc về thế gian" theo nghĩa nào (c. 14)? Ai là "con người hư đốn" mà Chúa Giêsu ám chỉ ở c.12? Nơi c. 15, Chúa Giêsu cầu xin Cha gìn giữ các môn đồ khỏi poneros. Đó là "sự dữ" hay "Thần dữ ”? Làm sao Chúa Giêsu có thể nói Người tự hiến thánh chính mình (c.19)?
Từ đầu đoạn văn này, Chúa Giêsu tái kêu cầu Chúa Cha bằng cách gọi Ngài là Cha chí thánh. Ý niệm "thánh" trong Cựu ước bao hàm một khía cạnh tiêu cực là tách rời với những gì phàm tục, và một khía cạnh tích cực là biết hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa. Xét như là một thuộc tính thần linh, ý niệm này gần tương ứng với cái mà ngày nay chúng ta gọi là siêu việt tính của Thiên Chúa. Đấng Toàn năng vượt trên thế giới thụ tạo. Sự dữ chẳng có quyền hành chi trên Ngài, Ngài ở trong một ánh sáng không phai nhạt (Is 6,3). Ý tưởng về sự thánh thiện thần linh là một trong những ý tưởng căn bản nhất của Do thái giáo. Ảnh hưởng của nó trên các công thức kinh nguyện của người Hy bá chứng minh điều này (Tv 71,22; 2Mcb 14,36; Lc 1,49). Ở đây, Chúa Giêsu nại đến sự thánh thiện của Chúa Cha là vì ngài sắp cầu nguyện cho những kẻ thuộc về Người được tác thánh, khỏi nhiễm phải thế gian tội lỗi (c.17). Trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có ba đối tượng: 1. gìn giữ các môn đồ trong đức tin (cc.11b-13); 2. Che chở các ông khỏi thế gian hư đốn (cc.14-16); 3. Tác thành các ông trong sự thật t (cc. 17- 19). Cách thức Chúa Giêsu ngỏ lời với Chúa Cha thật có ý nghĩa đối với sự mạch lạc của các ý tưởng. Cha là Đấng "Thánh", Đấng Toàn tha, hoàn toàn tách biệt khỏi "thế gian". Đứng trước "thế gian" này với những tham vọng của nó, Ngài là Thiên Chúa duy nhất chân thật 17,3). Ngài là ánh sáng (1Ga 1,5) còn "thế gian" là tối tăm. Ngài là tình yêu 1Ga 8.16) còn thế gian bị thống trị bởi hận thù và bởi "Đầu mục" của nó.
Việc nhấn mạnh đến sự thánh thiện này của Thiên Chúa tương phản dữ dội với việc dề cập đến "thế gian" đi liền ngay trước (c.11a). Các môn đồ đã là tù nhân của "thế gian" không Thiên Chúa đã giải thoát họ và đem về bên phía Ngài. Tuy Vậy họ vẫn còn ở trong thế gian", thế gian cố gắng chụp lấy họ và kéo về lại với nó. Mối tranh chấp này làm nổi bật hai "không gian" thiêng liêng là sự tương phản chi phối cả lời nguyền cho đến c.19. Không được quên mất hai không gian ấy. Nếu muốn hiểu các câu đi tiếp theo: một bên là "thế gian" nơi tối tăm, và trên kia là nơi thánh của ánh sáng thần linh, tách biệt rõ ràng với nơi đầu. Thế mà chính Thiên Chúa nhờ cuộc khảo của Ngài, đã tạo nên cái không gian trong đó loài người có thể định cư và lưu lại. Các môn đồ cần phải sống trong không gian này để hoàn thành công cuộc của Chúa Giêsu. Nếu họ về bên của Thiên Chúa, tách khỏi tối tăm, thì Chúa Giêsu sẽ tiếp tục được tôn vinh nơi họ. Thành thử cần phải cầu xin Cha gìn giữ họ.
Chính "trong danh Cha" mà các môn đồ phải được giữ gìn. Danh Cha, nghĩa là mặc khải về tình yêu của Ngài do Chúa Giêsu, ở đây như chỉ một không gian mà Thiên Chúa dựng nên cho những kẻ thuộc về Ngài. Những người này hằng tự mình nào đó, nhưng đã được "kéo lôi" vào sau khi đã được tuyển chọn; vì thế họ không thể lưu lại trong đó tự sức riêng. Chúa Cha giữ họ trong đó bằng sức mạnh của mặc khải Ngài và chỉ bằng sức mạnh này mà thôi. Vì thế thành ngữ: "xin gìn giữ chúng trong danh Cha" không chỉ có nghĩa: "xin hãy gìn giữ chúng trong không gian mà mặc khải đã tạo nên nhưng còn là: "xin gìn giữ chúng bằng sức mạnh thần linh mà mặc khải đã dùng để bắt lấy họ", nghĩa là rốt cục bằng sức mạnh của Thánh Thần. (Như thế lời cầu xin này đáp ứng lời hứa ban một "Đấng bầu chữa khác" sẽ ở với và ở trong các môn đồ luôn mãi x. 14, 16-17).
Hạn từ "gìn giữ" ở đây không có nghĩa là phòng vệ, phòng ngừa nhưng là củng cố bằng thử thách. Nếu Chúa Cha "gìn giữ" các môn đồ trong ánh sáng thánh thiện của Ngài, thì cũng là bằng cách ném họ vào cuộc chiến, cho chạm trán với sự thù nghịch của thế gian. Việc giữ gìn này, theo như chúng ta thường bảo, đúng ra là việc giữ vững trong thử thách. Dầu sao ở đây người ta không muốn nói các môn đồ chỉ là những đối tượng thụ động của hành động thần linh, bằng chứng là chương 15 cũng dùng cùng hạn từ này: c.10 chương ấy nói là các môn đồ phải "giữ" lệnh truyền của Chúa Giêsu nghĩa là giới luật tình yêu (Ga 15, 12) và nhờ đó lưu lại trong tình yêu của Người. Điều này thật ra muốn nói lên cùng một chuyện như thành ngữ trái ngược "Chúa Cha gìn giữ chúng". Vì được gìn giữ đối với các môn đồ, có nghĩa là nhận lãnh từ nơi Cha sức mạnh để sống trong Chúa Giêsu. Đó là điều c. 11b còn diễn tả: "để chúng nên một như Ch Ý nghĩa và mục đích của hành động “gìn giữ” môn đồ của Thiên Chúa là sự hiệp nhất của họ. Điều này loan báo chủ đề của phần thứ ba trong Ga 17. Từ ngữ chủ chốt "tình yêu”, vốn bí mật chi phối phần này để rồi xuất hiện cách minh nhiên ở c 26, đã soi chiếu sự hiệp nhất ấy giữa các môn đồ với nhau. Hiệp nhất trong tình huynh đệ này không thể phân ly với hoạt động "gìn giữ" họ của Thiên Chúa và với nỗ lực riêng của họ để "lưu lại" trong không gian của mặc khải. Thật vậy không gian này được đặc trưng bởi tình yêu, thành thử là đối nghịch với thế gian, không gian của hận thù tình yêu huynh đệ, trong Gioan, có một ý nghĩa quyết định. Tất cả sự phong phú của hoạt động tông đồ và do đó việc tôn vinh Chúa Cha cùng Chúa Con đều tùy thuộc vào nó. Vì các môn đồ cần phải biểu lộ sự hiệp nhất này trong tình yêu của Cha và của Con: "để chúng nên một như Chúng Ta". Tình yêu của Cha, vốn "gìn giữ " họ, muốn tạo nên một sự hiệp nhất vượt quá mọi khả năng loài người và chỉ đến được từ Thiên Chúa. "Ước gì chúng nên một trong Chúng Ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (c 21).
“Con đã ban cho chúng lời Cha và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (c. 14). Hai không gian chống đối nhau tái xuất hiện rõ ràng: thành ngữ "không thuộc về thế gian" giả thiết phản đề "thuộc về thế gian". (Ngữ điệu này được dùng hai lần ở đây và hai lần trong c.16 là câu lặp lại c.14). Một vài câu trong chương 15 liên quan đến hình ảnh cây nho bổ túc cho những gì được nói ở đây: người ta minh nhiên gặp ở đó đối ngữ "thuộc về thế gian": "Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu dấu như của riêng nó; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian bởi Ta đã chọn các ngươi từ giữa thế gian, nên thế gian ghét các ngươi. Hãy nhớ lời Ta đã nói với các ngươi: Tôi tớ không hơn chủ ! Nếu họ đã bắt bớ Ta. Họ cũng sẽ bắt bớ các ngươi” (Ga 15,19-20).
Thế gian ghét các môn đồ vì họ chẳng thuộc về nó, vì họ khác với nó, như Chúa Giêsu. "Thuộc về thế gian" là bị đặt trong vương quốc tối tăm, là chấp nhận lề luật ích kỷ và hận thù của nó, là theo lề luật ấy mà sống và hành động. Các môn đồ không thuộc về thế gian vì Chúa Giêsu đã lôi kéo họ ra khỏi; từ đây "không gian” mà họ sống cũng như sức mạnh làm cho họ sống và hành động chẳng phát xuất “từ thế gian". Họ được "sinh bởi Thiên Chúa" (1,13) như hành động của Chúa Giêsu và đức tin của mình. Có thể bảo họ đã nhận lãnh một nguồn gốc mới. Họ chẳng những khác nhờ cuộc tái sinh mới mẻ đồng hóa họ với Chúa Giêsu, nhưng còn vì được thông phần vào công cuộc của Người bằng cách rao truyền lời Thiên Chúa trong thế gian. Đầu câu 14 cũng nói tới bổn phận này của họ: Chúa Giêsu đã ban cho họ lời Thiên Chúa để họ biết và sống, vừa để họ thông truyền kiến thức và sự sống ấy cho tha nhân (x. 15,20). Họ tiếp tục công việc của Chúa Giêsu và thành thử bị thế gian thù ghét, như Người đã bị thù ghét, vì họ hoàn toàn thuộc phe Người, trong không gian thánh của mặc khải. Mục đích lời cầu nguyện của Chúa Giêsu không phải là họ luôn được "tách rời" như thế sao?
"Con đã canh phòng, và không ai trong chúng hư đi, trừ phi con người hư đốn (fils de perdition). Chữ "hư đốn" có cùng căn ngữ hy lạp với chữ "chết". Trong Tân ước, "hư đốn" thường có nghĩa "hư vong", "đọa phạt" (một 7,13; Kh 17,8); và như thế "con người hư đốn" ám chỉ kẻ thuộc về vương quốc của đọa phạt và thế nào cũng bị diệt tiêu. Mặc dầu loại câu văn này, có thể gặp thấy trong tiếng Hy lạp cổ điển, nhưng hầu như chắc đây là một đặc ngữ sêmita. Có lẽ từ ngữ Hy lạp của Gioan dịch chữ ben shahat; vì trong khi shahat có thể ám chỉ hố thẳm Shéol, thì trong tiếng Hy bá của Qumrân, nó lại có nghĩa "hư hỏng" và đồng nghĩa với "awel", "độc dữ ", một hạn từ được dùng trong nhị nguyên thuyết của Qumrân để chỉ vương quốc đối nghịch với sự thiện. Từ ngữ "con người hư đốn" trở lại trong 2Tx 2,3 để mô tả Phản-Kitô sẽ đến trước Quang lâm. Thật đáng chú ý là trong quan niệm "cánh chung thực hiện rồi" của Gioan, "con người hư đốn" xuất hiện suốt sứ vụ của Chúa Giêsu trước khi Người trở về với Thiên Chúa. Khó mà biết đây có phải là một sự sửa đổi, cách chủ ý, niềm mong đợi cuộc khải huyền không. Trong Tin mừng thứ tư, đó rõ ràng là một sự quy chiếu về Giuđa xét như dụng cụ của Satan. Thật vậy, trong 6,70, Giuđa đã được mô tả như là một con quỷ; và trong 13,2.27.30, người ta cho hay rằng Satan nhập vào lòng Giuđa và y đi vào trong vương quốc tối tăm để phản bội Chúa Giêsu.
"Để Kinh thánh được nên trọn". Thành ngữ này nói lên não trạng theo đó người ta đã tin ràng. Các biến cố xảy đến suốt sứ vụ Chúa Giêsu thường là để hoàn tất những gì đã được tiên báo trong Kinh thánh. Ở đây không rõ câu này được Gioan trình bày như là chính là Chúa Giêsu hay như một suy tư của riêng ông.
"Để Kinh Thánh được nên trọn”. Ở đây có thể suy đoán rằng Chúa Giêsu (hay Gioan) liên tưởng tới một đoạn đặc biệt nào đó. Hiển nhiên, các Kitô hữu đầu tiên đã sớm tìm kiếm trong Cựu ước nhiều đoạn khả dĩ cắt nghĩa sư bội phản của Giuđa, vì những bản phúc trình khác nhau về việc sa ngã của Giuđa đều dành một chỗ rất lớn cho hậu cảnh Cựu ước Cv 1,16-20 cho rằng Thánh Thần đã nói trước về Giuđa và minh nhiên trích dẫn. Tv 69,26 và 109,8. Mt 27.3-10, Mặc nhiên trích dẫu một nguyên tắc pháp luật cấm sử sụng tiều bạc đã nhuốm máu vào việc nhà Chúa (x. Đnl 23,19), và minh nhiên trích dẫn khá tự do Dcr 11, 1.2-13 về ba mươi đồng bạc (có lẽ ông đã chi phối đoạn này với một đoạn của Giêrênia: 32,6-15?). Dấu chứng duy nhất khả dĩ cho chúng ta biết đọan Gioan nghĩ tới là: khi diễn tả việc bội phản của Giuđa ở 13, 18, ông trích dẫn minh nhiên.Tv 41.10. Nếu khúc đuôi của Ga 17,12 với ý hướng quy chiếu về "Kinh Thánh" là một câu văn xuôi thêm vào để giải thích cho ca thi của chướng 17, thì có lẽ soạn giả chèn nó vào đã nghĩ đến 13,18.
Trong câu “Con không xin Cha cất chúng khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ chúng khỏi poneros”, chữ poneros có thể hiểu như một danh từ trừu tượng: “sự dữ”; nhưng vì tương tự với 1Ga 2,13-14; 3,12 và 5,18-19, nên chắc hẳn nó nhắm vào một cá vị là ma quỷ. Thần dữ là Đầu mục của thế gian y như 1 Ga 5, 19 quả quyết: "Toàn thể thế gian đều lụy quyền Thần dữ". Câu này là câu Gioan song song với lời nài xin trong bản kinh Lạy Cha của Mátthêu: "Xin cứu chúng con thoát khỏi Thần dữ" (Mt 6, 13- thường thường người ta dịch kém chính xác hơn là: "xin cứu chúng con khỏi sự dữ "). 1Ga 2,13-14 cho thấy lời cầu xin của Chúa Giêsu ở câu 15 thực sự đã được chấp nhận, vì trong 1Ga có nói rằng các Kitô hữu trẻ trung "đã chiến thắng Thần dữ". Trong câu cuối cùng của đoạn văn, chúng ta thấy Chúa Giêsu không những nài xin Cha thánh hiến các môn đồ mình trong sự thật, mà còn tự thánh hiến mình cho mục đích ấy. Việc thánh hiến chính mình này hệ tại chỗ nào? Trong Cựu ước, có rất nhiều người và vật được thánh hiến. Nhất là các ngôn sứ và tư tế đều được thánh hiến để thi hành một trách nhiệm đặc biệt. Một ví dụ về thánh hiến ngôn sứ được tìm thấy trong lời của Gioan nói với ngôn sứ Giêrêmia: "Trước khi nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt dạ mẹ, Ta đã thánh hiến người; Ta đã đặt ngươi làm ngôn sứ cho các dân tộc" (1,5; x. Hc 49,6). Ngôn sứ cần phải được tác thánh vì là kẻ mang lời Thiên Chúa. Người ta cũng tìm thấy nhiều quy chiếu về việc thánh hiến các tư tế trong Xh 40, 13; Lv 8,30; 2Sk 5,11. Các thí dụ về thánh hiến ngôn sứ và tư tế này tạo nên một hậu cảnh tốt cho ta 10,36, nơi nói rằng Chúa Cha dã thánh hiến Chúa Giêsu và đã sai Người đến trong thế gian; song chúng không mấy thích hợp cho việc giải thích 17,19 là nơi bảo rằng Chúa Giêsu tự thánh hiến chính mình. Ở đây có lẽ chúng ta gần trơn với ý niệm thánh hiến hy lễ trong hy tế (Đnl 15, 19).
Phải chăng Chúa Giêsu nghĩ đến việc tự nộp mình cho tử thần vì môn đồ khi nói: "Chính vì chúng mà Con xin thánh hiến mình Con"? Giới từ "vì (huper) chúng" gợi lên cái chết. Như người ta có thể thấy qua việc dùng chủ huper suốt cuốn Tin mừng. Trong 11,15, Chúa Giêsu phải chết vì cả câu; trong 10, 11 Mục tử kiểu mẫu thí mạng sống mình vì chiên; trong 15, 13 Chúa Giêsu bảo mình thí mạng sống vì bạn hữu. (cũng thế ở nhiều chỗ khác trong Tân ước, chẳng hạn Rm 8,32: "Ngài đã không tha cho chính Con Ngài, nhưng đã phó nộp Người vì chúng ta"). Vẻ long trọng và uy quyền trong câu I" có thể so sánh được với giọng điệu của 10,17-l8: "Ta thí mạng sống Ta... chính Ta tự mình thí mạng sống Ta". Nếu việc thánh hiến của Chúa Giêsu liên quan tới việc thánh hiến và sai phái các sứ đồ, ban việc sai phái không thể xảy ra trước cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu (20,21). Nếu việc thánh hiến các môn đồ trong chân lý bao hàm hành động của Thánh Thần, thì thánh Thần này chỉ được ban sau cái chết và Phục sinh của Chúa Giêsu (20,22). Như thế, khi Chúa Giêsu nói đến chuyện Người tự thánh hiến trong 17, 19, thì ta có thể nghĩ rằng không những người là sự thật thể của Lời Thiên Chúa đã được thánh hiến do Cha, mà còn là thượng tế tự hiến chính mình như hy lễ cho những kẻ mà Cha đã ban cho Người. Chủ đề tư tế này xem ra tái xuất hiện ở chương 19.
Lời nguyện tư tế của Ga 17 diễn ra trong một bầu khí gần giống bầu khí của thư Do thái, nơi Chúa Giêsu được trình bày như vị thượng tế thiên quốc cầu bầu cho nhân loại. Dt 9,12-14 nói Chúa Giêsu tự hiến mình như hy vật hiến tế, một tư tưởng trong ứng được với Ga 17,19. Người ta cũng có thể nhắc tới đoạn song song với Ga 17 trong Dt 2,10-11. Ở đây tác giả nói về Chúa Giêsu rằng Người đã trở nên thập toàn nhờ đau khổ, và điều này giống với tư tưởng của Gioan cho rằng Chúa Giêsu được tôn vinh qua việc trở về cùng Cha. Tác giả thư Do thái mô tả Chúa Giêsu như Đấng thánh hiến (hay thánh hóa), trong khi các Kitô hữu mà Người đã thánh hiến là anh em của Người. Tư tưởng này được lấy lại trong Dt 10,10: chính trong ý muốn ấy mà Ta đã được tác thánh, nhờ việc Chúa Giêsu đã hiến dâng mình Người duy chỉ một lần". Ga 17,19 trình bày Chúa Giêsu tự thánh hiến mình giống như hy lễ, để môn đồ Người cũng được thánh hiến - những môn đồ vốn làm một với Người (11,21-23).
CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Xin gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã ban cho Con": Cách dịch này của B.J rất đáng phê bình. Bản văn chính xác viết hôi dedôkas moi. Không kể đến khó khăn có sẵn trong đoạn này, việc hiệp của đại danh từ với tiền từ onomati theo luật văn phạm (attraction grammaticale) đã là nguyên nhân khiến cho Tây phương đổi hôi thành hous. Và đó là cách dịch của bản phổ thông: quos (discipulos) dedisti mi hi – nhưng kẻ Cha đã ban cho Con. Nhưng cách dịch đích xác, dựa trên chữ hôi, phải là: "Xin gìn giữ chúng trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con" (x. Nguyễn thế Thuấn).
"Không một ai trong chúng đã hư đi": Trong cả câu này, Chúa Giêsu nói trước ở thì quá khứ, như thể người đã sống hoàn toàn thảm kịch Khổ nạn rồi vậy.
"Con nói thế lúc còn ở thế gian": Với tư cách là Ngôi Con vĩnh cửu hằng kết hiệp với Ngôi Cha, Chúa Giêsu không cần một hình thức cầu nguyện bên ngoài nào cả; nhưng cách thức nhân loại này là phương thế duy nhất để cho loài người thấy được sự kết hiệp là người đang hưởng: sự kết hiệp này là kiểu mẫu của sự kết hiệp các môn đồ sẽ được hưởng về sau. Điều này giúp Người biểu lộ cho họ thấy niềm vui của Người, cái niềm vui phát xuất, như niềm vui của họ trong tương lai, từ việc người vâng phục Cha vô điều kiện là kết hiệp với Cha không ngừng.
"Lời Cha là chân lý": Ngôn thức này có thể là một đặc ngữ sêmita thay cho "lời Cha là chân thật". Vì tiếng hy bá và tiếng Aram Do thái thiếu tĩnh từ "chân thật" nên người ta dùng danh từ "chân lý" thay vào; x. Tv 17,24: "Lời của Giavê (vốn ở) trong miệng Ngài là chân lý (= chân thật)" (hy bá: emèt). Về tiếng Aram Do thái, xin xem một thí dụ trong Midrash Ekha 1,4 (Dalman, Aram Dialekproben 16): "Trong bốn điều này, một là chân lý (=chân thật)" (qushtâ).
"Con đã sai chúng đến trong thế gian": Chúa Giêsu nói trước ở thì quá khứ, như trong c. 12. Việc sai phái là hậu quả của việc thánh hiến, như trong 10,36.
"Con tự thánh hiến mình Con": Có một lối chơi chữ trong việc dùng động từ hagiazô "thánh hiến". Hagiazô, chữ phỏng lại từ tiếng Aram qaddesh, có nghĩa "đặt riêng ra cho Thiên Chúa" mà trong thực tế là tách lìa khỏi những gì chẳng phải là Thiên Chúa, nghĩa là khỏi thế gian. Việc đặt riêng đây, đối với Chúa Giêsu, chính là cái chết của Người, sự tách ta thể lý và hoàn toàn khỏi thế gian; đối với các môn đồ, đó là một sự tách lìa có tính cách luân lý khỏi thế gian để phục vụ cho chân lý. Khi việc thánh hiến cho Thiên Chúa liên can tới toàn thể hữu thể và hành động của con người, thì nó cũng bao gồm việc hiến dâng cả cái chết nữa. Phương diện hy tế này được nhấn mạnh ở đây là nhở việc thập giá gần kề và nhờ chữ vì chúng. Qua câu nói, Chúa Giêsu bộc lộ ý muốn hiến dâng cách tự do mạng sống mình (10,18; 15, 13) để thánh hiến môn đồ Người.
"Để chúng cũng được thánh hiến trong chân lý": Việc thánh hóa các môn đồ cuối cùng đặt nền tảng trên hy tế thập giá và trên việc Chúa Kitô vinh hiển ban Thánh Thần; cuộc thánh hiến này là ân huệ thiêng liêng ban cho các môn đồ tư cách thi hành sứ vụ của họ.
KẾT LUẬN
Chống lại niềm đợi trông cách thụ động một cuộc Quang lâm gần kề, Gioan nhấn mạnh rằng bổn phận của cộng đoàn các môn đồ là biểu dương thế giới cánh chung giữa nhân loại Bổn phận này bắt buộc phải có việc đương đầu với quyền lực của Sự Dữ và của hận thù quyền lực mà chỉ sự trợ giúp của Chúa Cha mới có thể cho phép thắng vượt (l5,19-16,4).
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
"Con đã ban cho chúng lời Cha và thế gian đã ghét chúng". Ở đây Chúa Giêsu nói cho ta hay là thế gian xấu xa đến nỗi tình yêu, sự tốt lành, thánh thiện, công bằng chỉ gây nên thù ghét; và chính vì nó như vậy và vì sự kiện này (mà chúng ta lấy làm thắc mắc) xảy ra như một điều hiển nhiên, nên thánh Gioan quả quyết chỗ khác: "Đừng ngạc nhiên nếu thế gian ghét anh em" (1Ga 3,13). Thật vậy, thế gian không thể chịu đựng được là có một cái gì khác với nó, bởi vì trong khi muốn được tán đồng, nó lại cảm thấy bị trách cứ, bẽ bàng và bị lên án lúc gặp người có những hành vi công chính và tốt lành, tốt lành đến nỗi yêu thương kẻ xấu xa. Và vì thế sự độc ác đáp trả sự tốt lành, hiềm ghét đáp trả tình thương, và bất công đáp trả công bằng. Bất công này tự lột mặt nạ ra vì không thể chịu đựng được sự thiện. Thế mà, theo Chúa Giêsu, chúng ta thuộc về số những người phải chịu các điều đó xảy tới. Nhưng chúng ta nên thành thật tự vấn: có phải thế gian đã ghét chúng ta không? Có phải chúng ta là những người bị ngược đãi vì đạo của mình không? Có phải chúng ta chịu bạo hành và ngược đãi vì đã theo tiếng lương tâm không? Có phải chúng ta chẳng thuộc thế gian này và do đó cảm thấy cách cụ thể sự thù ghét của nó không? Hay là chúng ta phải đảo ngược lại: Không, nói cách thành thật và khách quan thì tình trạng của chúng tôi không tốt hơn tình trạng của bao người khác. Trong cuộc sống, chúng tôi đã phải chịu nhiều trở ngại, thiếu công việc vất vả, và có lẽ ngay cả nhiều nhục nhã và nhiều tai họa khác tương tự của đời sống, nhưng không phải vì thế gian ghét bỏ chúng tôi, không phải vì chúng tôi là những người công chính, những người tràn đầy tình thương đối với kẻ ghét chúng tôi ! Dĩ nhiên, khi dùng những tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn giúp chúng ta xét đứng đắn Kitô giáo của mình, chúng ta có thể dùng cách sai lạc. Có nhiều Kitô hữu tưởng mình đối nghịch với thế gian, trong khi có lẽ họ chỉ là những người cổ hủ và phản động; có nhiều Kitô hữu cảm thấy khổ sở vì sự chống đối của những người ngoài Kitô giáo, nhưng như vậy là thường, vì xét cho cùng, sự chống đối ấy không nhắm chính bản chất đích thực của Kitô giáo, nhưng nhắm cái Kitô giáo không phải là nơi chúng ta: chúng ta gây công phẫn cho người ngoại đạo vì chúng ta không sống đạo thật và bởi vậy khiến họ lẫn lộn Kitô giáo với chúng ta cùng tưởng rằng phải gạt bỏ Kitô giáo. Vì thế chúng ta phải không ngừng thực hiện trong chính mình và trong thế giới, một sự phân biệt giữa cái là Kitô giáo và cái chả phải là Kitô giáo thật. Việc phân biệt này rất khó khăn, cần có ánh sáng của Thiên Chúa. Thật khó khăn nhưng đó là một nhiệm vụ cao cả. Chúng ta nên tự hỏi luôn, xem mình phải chăng không quá giống bao người khác. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn chịu đựng cách bình thản là can đảm hận thù đích thực của thế gian, trong sự trung thành bên trong với Kitô giáo đích thực của chúng ta, và xin Ngài cũng ban cho Giáo hội hôm nay, cho các vị lãnh đạo Giáo hội và cho mỗi người chúng ta, ơn đừng vì lỗi chúng ta mà làm cho đức tin Kitô giáo trở nên bất khả trước mắt thế giới.
Học viện Giáo Hoàng Piô X Đà Lạt