
Cùng tìm hiểu ý nghĩa câu chủ đề Đại Lễ mừng 192 năm sinh nhật Nước Trời Cha Thánh Phêrô Lê Tùy
25/09/2025 10:52
Thoạt nghe cái tiêu đề, tôi trộm nghĩ có khi nào BTT Bằng Sở lại thích “phông bạt”, “đánh bóng” khi đăng tải chủ đề: “Thánh Phêrô Lê Tuỳ, chứng nhân của niềm hy vọng? Bởi thấy nó giống với các khẩu hiệu hô hào đang nhan nhản khắp xã hội quá!
Nhưng chủ đề mà giáo xứ đã chọn thực sự lại là một lời mời gọi những ai yêu mến thánh Phê-rô Lê Tuỳ, hãy “đi ra” khỏi cách yêu mến truyền thống, như: cầu xin mọi sự, dâng hoa, dâng hương… thay vào đó hãy học cách bày tỏ lòng yêu bằng việc thực sự “hiểu – biết” về người mà mình yêu.
Vậy mạn phép được viết xuống một vài dòng, chỉ xin được coi là chia sẻ lòng mến yêu của cá nhân với thánh linh mục Phêrô Lê Tuỳ.
“Chứng nhân” hay “Nhân chứng”?
“Nhân chứng” là người cho người khác thấy “sự thật” thông qua việc tường thuật những điều đã được “mắt thấy tai nghe”. Như thế, cái được gọi là “sự thật” ấy vẫn nằm bên ngoài, và có thể không liên quan gì đến cuộc sống của những nhân chứng.
Thế nhưng “chứng nhân” thì lại khác! Họ cũng cho người khác thấy “sự thật”! nhưng không phải là thuật lại, mà để “sự thật” ấy được lên tiếng bằng chính cuộc đời, thông qua cung cách sống, lối ứng xử. Như thế, “sự thật” không hề nằm bên ngoài, nhưng nó đã được vị chứng nhân ấy trải nghiệm, và biến “sự thật” ấy thành một phần cuộc đời của mình.
Vậy trong Kinh Thánh có chỗ nào nói về “hai” kiểu người này không?
Dĩ nhiên là có chứ!
Tin mừng Gioan kể về trình thuật các môn đệ đầu tiên đã tìm gặp Đức Giê-su và ở lại với người ngày hôm ấy. Sau đó, họ trở thành “nhân chứng”! An-rê đã về thuật lại cho em mình là Simon: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (Ga 1,40-41). Hay như Philiphê nói với Nathanaen: Đấng mà sách luật Mô-sê nói đến, tôi đã gặp ngài đấy! (x. Ga 1,45). Dĩ nhiên, các “nhân chứng” này sẽ còn kể lại nhiều điều mà họ đã nghe, đã nhìn thấy nơi Đức Giêsu.
Nhưng cũng chính những “nhân chứng” này sẽ trở thành “chứng nhân” khi họ đã dùng cả cuộc đời để rao giảng về Thầy mình và cuối cùng sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho những gì họ đã và đang sống. Đúng như cách mà Phaolô nói: “Tôi sống những không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20) và “Tôi mang trong thân mình những dấu tích của Đức Giêsu” (Gl 6,17). Chính môn đệ đã trải nghiệm, đã sống, mà mang vào mình “sự thật” về Đức Kitô Giêsu, chính “sự thật” ấy lên tiếng trong cuộc đời của các “chứng nhân”.
Vậy Thánh Phêrô Lê Tuỳ là “nhân chứng” hay “chứng nhân” cho niềm hy vọng?
Hy vọng là gì?
Có phải là một thứ mơ mộng viển vông như một liều thuốc an thần! hay một cái nhìn về tương lai quá tích cực đến nỗi xa rời thực tế nhân sinh.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy:“Đức cậy (hy vọng) là nhân đức đối thần, nhờ đó ta khao khát Nước Trời và sự sống vĩnh cửu, đặt niềm tin tưởng vào các lời hứa của Đức Kitô và dựa vào ơn trợ giúp của Thánh Thần” (số 1817–1821).
Như thế, đích nhắm của hy vọng là “Nước Trời”, là “sự sống vĩnh cửu”. Hy vọng này chắc chắn bởi nó được đặt trên lời hứa của Đức Giêsu Ki-tô, Đấng Phục sinh. Niềm hy vọng ấy cũng không hề chối từ thực tế của kiếp người, khi chính Đấng Phục Sinh ấy đã làm người, sống trọn vẹn thân phận yếu đuối như chúng ta, đã bước đi trên hành trình với đầy đủ kinh nghiệm buồn vui của kiếp nhân sinh. Tác giả thư Do Thái cũng phải thốt lên sự thật này: “Dầu là Con, Người cũng đã phải dãi dầu đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.”[1].
Như thế, hy vọng Ki-tô giáo chắc chắn bởi tin vào lời hứa của Đấng chưa thất tín bao giờ, của Đấng là “chứng nhân” cho chính lời của mình. Và hy vọng ấy không bao giờ chối bỏ thực tế cuộc sống của con người; ngược lại, nhờ hy vọng mà cuộc sống này có ý nghĩa và có giá trị trong hành trình mà Chúa dẫn chúng ta đạt đến hạnh phúc Nước Trời.
Cha Thánh Lê Tuỳ sống niềm hy vọng thế nào?
Chúng ta không biết, cậu Giêsu đã mồ côi cha năm bao nhiêu tuổi, nhưng ít nhất là còn mẹ. Người Việt vẫn có câu: “Sẩy cha thì ăn cá, sẩy má thì liếm lá đầu đường”. Như thế, cậu Giêsu xem ra còn may mắn hơn cậu bé Lê Tuỳ, khi chỉ mới 10 tuổi đã mất cả cha lẫn mẹ.
Một mất mát và đau khổ lớn như vậy đã quật ngã rất nhiều người, nhưng sẽ không thể với những tâm hồn bám rễ chắc chắn nơi Thiên Chúa. Hy vọng chính là chiếc neo mà cậu bé Lê Tuỳ đặt để nơi Thiên Chúa, Đấng đã hứa, cho dầu thế nào thì “hãy còn có Đức Chúa đón nhận con.” (Tv 27,10), và “Ta biết các kế hoạch Ta dành cho các ngươi, những kế hoạch đem lại bình an chứ không phải tai ương, để ban cho các ngươi một tương lai đầy hy vọng.” (Gr 29,11).
Như thế, Hy Vọng giúp cho cậu Lê Tuỳ đón nhận biến cố mất mát này, như một kế hoạch mà Thiên Chúa có cách để dẫn cậu đến đích điểm là hạnh phúc Nước Trời.
Quả đúng là Thiên Chúa đã huấn luyện và nuôi dưỡng niềm hy vọng ấy nơi cậu Lê Tuỳ, để rồi có được một linh mục Lê Tuỳ luôn giữ và sống niềm hy vọng ấy trong suốt sứ vụ mục tử.
Lần kia, dù đứng trước nguy cơ bị quan quân vây bắt nếu cha đi xức dầu tại làng Thanh Trai, nhưng vị mục tử với nét mặt hiền từ nhưng lại đầy kiên quyết: “Cha có thế nào, thì đã có Chúa định, nhưng trách nhiệm của mục tử là lo cho phần rỗi linh hồn của người ta”. [2]
Ta tin rằng, Chúa đã thấy rõ niềm tin tưởng và hy vọng của cha Tuỳ trong lời nói ấy, nhưng Thiên Chúa có lẽ còn muốn “kiểm chứng”[3] niềm hy vọng ấy, khi đã để cho[4] quan quân bắt cha Lê Tuỳ ngay sau khi cha xức dầu cho bệnh nhân xong.
Cha Lê Tuỳ cũng không để cho Chúa phải thất vọng, khi ngay trong hoàn cảnh tù tội, vị mục tử ấy vẫn sống vui vẻ đến lạ thường, ta thấy phảng phất hình ảnh của người Tôi Trung trong Isaia: “Bị ngược đãi, Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng hề mở miệng.” Đây chẳng phải là lối sống của chính Đức Giêsu trên thập giá hay sao?
Còn trên pháp trường, ta thấy rõ trái tim bất khuất không nao núng, không lay chuyển của cha Lê Tuỳ, chẳng phải là vì cha đã bám chắc, đã neo mình nơi thập giá của Đức Ki-tô sao? Cha Tuỳ ngước mắt lên trời cầu nguyện: “Lạy Cha là Chúa Trời đất con xưng tụng Cha đã dựng nên con có hồn có xác. Giờ phút này con xin dâng lên Cha cả hồn lẫn xác của con để nói cho mọi người hiện diện nơi đây là con tin thật Chúa là Cha của con, của mọi người. Xin Cha chúc lành cho những người này và xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”[5].
Lời cầu nguyện này, đưa chúng ta vào vườn Giê-si-ma-ni! Đồng thời cũng đưa ta đến đồi Gôn-gô-tha. Ta lại được thấy phần nào khung cảnh của cuộc thương khó Đức Giê-su nhờ vào chính vị chứng nhân của Ngài.
Kết Luận
Có lẽ nên để chính người đọc đưa ra kết luận cho chính mình rằng, liệu “Thánh Phêrô Lê Tuỳ có phải là chứng nhân của niềm hy vọng”?
Nhưng có điều này quan trọng hơn! Thiên Chúa ban cho ta những vị thánh không phải để ta “chắp tay” xin hết ơn này đến ơn khác đâu! Vì “Thiên Chúa biết điều anh em xin trước khi anh em thưa lên”. Thế nên, điều Thiên Chúa muốn là hãy noi gương, bắt chước nhân đức của vị thánh ấy. Vậy thiết nghĩ, “sống niềm hy vọng như cha thánh Lê Tuỳ” có lẽ phù hợp để kết thúc bài viết này.
Chúc quý khách hành hương nhận được nhiều ơn lành nhờ lời chuyển cầu của vị thánh mà quý khách vị ngay hôm nay đã bắt chước sống niềm hy vọng như ngài.
___Nắng Tháng Ba__