Lá thư này đã được viết ngày 11 tháng 12 năm 1833. Đây là bức thư mà Cha C. MASSON đã viết để kể lại việc cha Phêrô Tùy bị bắt và chịu xử trảm như thế nào cho các cha thuộc Hội thừa sai tại Paris. Ngoài việc báo cáo về cuộc tử đạo của cha Tùy, cha MASSON còn gửi tới các vị có trách nhiệm của hội Thừa Sai Paris tình hình chung của việc truyền giáo và sự bách hại đạo tại Tong – Kinh (Khu vực Nghệ An – Hà Tĩnh, Miền Bắc Việt Nam thời đó).
Dưới đây là bản dịch bức thư của linh mục Clément MASSON (1), một linh mục thuộc hội thừa sai Paris giai đoạn năm 1833 và sau này là Đức Cha Guillaume Clément MASSON - Đức giám mục phó giáo phận Nam đàng ngoài (Giáo phận Vinh ngày nay) giai đoạn từ 1848 – 1853.
Lá thư này đã được viết ngày 11 tháng 12 năm 1833. Đây là bức thư mà Cha MASSON đã viết để kể lại việc cha Phêrô Tùy bị bắt và chịu xử trảm như thế nào cho các cha thuộc Hội thừa sai tại Paris. Ngoài việc báo cáo về cuộc tử đạo của cha Tùy, cha MASSON còn gửi tới các vị có trách nhiệm của hội Thừa Sai Paris tình hình chung của việc truyền giáo và sự bách hại đạo tại Tong – Kinh (Khu vực Nghệ An – Hà Tĩnh, Miền Bắc Việt Nam thời đó).
Bức thư này được trích ra từ cuốn tài liệu mang tên « Annales de la propagation de la Foi - Biên niên sử truyền bá đức tin (2) » từ trang 420 tới trang 429. Cuốn tài liệu này gồm tất cả các thư liên quan đến việc truyền bá đức tin của các Đức Giám Mục và các linh mục thừ sai.
Bản dịch sang tiếng Việt do Sœur Anna Đỗ Thị Kiểm thuộc Hội dòng Mến Thánh Giá Hà Nội và cũng là người con quê hương Bằng Sở đang du học tại Pháp dịch sang tiếng Việt. 
Biên niên sử truyền bá đức tin - Chương 7 từ trang 420 đến 429

Tong – Kinh, ngày 11 tháng 12 năm 1833.
Các cha thân mến,
"Tôi tiếp tục cung cấp cho các cha thông tin về những việc rất quan trọng đang sảy ra tại đây, từ lá thư trước của tôi cho tới bây giờ. Và chắc chắn tôi sẽ kể cho các cha một cách không sợ hãi, bởi vì từ cách đây vài tháng có những sự biến triển rất nhanh chóng và ngạc nhiên nữa.
Trong lá thư trước tôi đã nói với các cha về việc cha Phêrô Tùy bị bắt giữ, cha là linh mục thuộc tỉnh này. Tôi cũng đã kể cho các cha nghe về các linh mục và một số tín hữu đã được thả tự do, để có được sự tự do này chúng tôi phải trả một số tiền và phải làm một bản cam kết để khẳng định là nếu như họ bắt được lần thứ hai thì này sẽ phải vào tù lần nữa.
Ngay sau khi cha Tùy bị tạm giam, chúng tôi đã làm tất cả những điều mà chúng tôi có thể để xin tự do cho ngài, và chúng tôi hy vọng rằng điều ấy sẽ xảy ra. Lúc đầu các quan đòi ba mươi thỏi bạc, nhưng sau khi thảo thuận thì họ đồng ý lấy khoảng sáu tới mười thỏi, tôi đã trao cho họ qua một thầy thuốc cũng là một tín hữu người được các quan rất kính nể. Nhưng mà Thiên Chúa nhân từ lại định đoạt cách khác cho cha Tuỳ, bởi vì vấn đề của cha Tùy được nhà vua biết tới nên các quan không giám thả tự do cho vị linh mục Tong-kinh của chúng ta. Các quan đã viết thư cho nhà vua, nhưng họ không gây tổn thương cho một tín hữu nào cả, việc này là một lợi thế cho chúng ta ; nhưng cách họ nói về cha Phêrô Tùy thì không có sức thuyết phục là bởi vì họ nghĩ rằng vấn đề trả tự do cho cha Tùy không có gì là khó cả, vì theo chiếu chỉ cấm đạo từ trước thì những người ngoài 60 tuổi sẽ không bị xử trảm, mà cha Tùy thì đã 61 tuổi. Nhưng câu trả lời của nhà vua đã được gửi tới hôm mùng 10 tháng 10 vừa qua thì ngược lại, câu trả lời là tất cả các vị giảng đạo đều sẽ bị chém đầu. Tôi nhận được tin này vào khoảng nửa đêm cùng ngày khi quyết định của nhà vua được ban ra. Những chi tiêu vào việc xin trả tự do cho cha Tùy buộc phải dừng lại, tôi cám ơn Thiên Chúa nhân từ đã ban cho giáo hội Tong-Kinh thêm một vị tử đạo nữa.
Khi cha Tùy nhận được bản án tử hình, Ngài rất cảm động, vi ngài đã chờ đợi giây phút này một cách nhẫn nhục từng giây từng phút từ khi phải vào tù. Cha Tùy đã hỏi với một sự thản nhiên rằng : «đây có phải là sự thât hay không ?» Người ta trả lời cha rằng không có sự gì chắc chắn bằng điều đó, khi được biết chắc như vậy Cha Tùy đã trả lời rằng «Tôi không bao giờ giám tin rằng mình lại xứng đáng lãnh nhận Hồng Ân lớn lao này». Ngài đã dùng bữa tối như thường lệ, nhưng ngài không muốn gặp một ai nữa để có thể chuẩn bị tốt cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Mặc dù các quan đã hứa sẽ xin trả tự do cho Cha nhưng Cha luôn có linh cảm là cái chết không còn xa mình lâu nữa, vì thế trước đó mấy ngày Cha đã giao phó mọi thứ của Cha cho người mà tôi đã gửi vào tù để chăm sóc cha. Sáng ngày hôm sau, tức ngày 11 tháng 10, người ta dẫn cha ra pháp trường, Cha Tùy đi ra pháp trường trong sự vui vẻ đáng ngạc nhiên, giống như là Ngài đang mang trong mình một vật gì đó thật là linh thiêng. Cha được điệu ra pháp trường bởi một viên quan và một số người lính, đi theo Cha còn có một đám đông, họ khẳng định là chưa bao giờ họ nhình thấy một ai đi ra pháp trường mà lại can đảm như vậy : điều này có thể nói lên rằng những người có mặt ở pháp trường chưa bao giờ nhìn thấy một người nào chết cho Đức Kitô như vậy. 
Khi tới nơi xử trảm, cha Tùy xin được cầu nguyện một lát, lời xin của cha đã được chấp nhận. Đợi Cha cầu nguyện xong, viên quan người chủ sự buổi trảm khuyết nói với cha Tùy rằng ; nhà vua ban cho cha năm đồng bạc để cha có thể mua một món ăn mà cha vẫn thích dùng. Đó là một qùa tặng mà nhà vua thường ban cho những người bị trảm khuyết, để họ có thể uống say sỉn trước khi chết. Nhưng cha Tùy đã trả lời rằng Ngài không muốn gì cả, ngay lập tức với một nhát kiếm người đao phủ chặt đầu Cha và Cha không còn làm được một cử chỉ nào nữa, linh hồn Cha đã lìa khỏi xác ngay lập tức. Tôi đã gửi một số tín hữu đi khâm liệm Cha và bảo họ cố gắng mua lấy cái gông mà Cha đã phải đeo bấy lâu nay, tôi rất muốn giữ lại chiếc gông của Cha va tôi đã mua được nó một cách dễ dàng. Các tín hữu đã mang xác của vị tử đạo đáng kính đi mai táng vào tối hôm sau đó. Họ đã chôn ngài ở nghĩa trang TRANG MÍA (Trang Nứa) thuộc tỉnh Nghệ An nơi đó trước là trường học của chúng ta.
Một vài ngày sau đó tôi nhận được lá thư của ông Jaccard báo cho biết là ông François GAGELIN cũng vừa bị kết án tử hình vì Niền Tin.
Sau cái chết tử đạo vinh quang của Cha Tùy, các quan gọi tất cả những nhà truyền giáo và những người có đạo đã được trả tự do để đe dọa. Các tín hữu tới gặp tôi và xin lời khuyên, tin này làm cho chúng tôi thật đau khổ như trong thư trước tôi đã chia sẽ với các cha. Tôi có thể khuyên họ điều gì ? Nước mắt của tôi hoà cùng nước mắt của họ, cuối cùng thì tôi cũng đã khuyên họ trở về với gia đình, vì vợ con họ cũng đã từng bị đeo gông cùng. Những người lính họ đeo gông cùm và bỏ tù tất cả những ai bị nguời khá tố cáo là Kitô hữu. Các cha cần phải biết rằng ở tù tại đây là một khổ hình đáng ghê sợ : bởi trong một căn phòng nhỏ, không có một cánh cửa nào ngoài cửa ra vào mà họ nhốt tới 100 con người, hơn nữa ai cũng phải đeo trên mình một chiếc gông thật nặng. Buổi tối họ còn bị gông chân nữa. Chính vì vậy họ không thể cử động được, chỉ những ai có nhu cầu đi vệ sinh thật sự thì mới được ra ngoài chốc lát. Ban ngày nếu họ muốn đi vệ sinh thì phải xin và đợi rất lâu thì người canh tù mới cho ra ngoài một vài phút. Ngoài ra họ phải ở trong phòng giam, không những ở trong phòng giam không mà còn phải ở đúng vị chí mà họ đã được chia cho. Tôi nghĩ các cha cũng có thể tưởng tượng ra được sự ô nhiễm và mùi nồng nặc trong cái nới ghê tởm đó. Những người tù nhân phải ngủ trên sàn đất đầy bùn hôi thối, thêm vào đó là tiếng kêu rên của những con mọt trong những cái gông, và hơn nữa là sự hành hạ của cái đói mà họ phải mang trong mình. Đối với những người đang trong thời gian đợi quyết định của nhà vua về số phận của mình thì họ phải nhịn đói. Còn những người mà nhà vua đã kết án thì nhà vua cho hai tô cơm và một ít muối mỗi ngày. Nhưng những người chia đồ ăn cho tù nhân thường giữ lại cho họ một nữa. Thêm vào đó cac tù nhân còn phải chịu những đòn roi mây của bọn lính canh nữa. Những người tù không có một giây phút tự do nào cả. Ban đêm cứ một tiếng họ lại thay lính gác một lần, và mỗi khi thay lính gác người ta lại điểm danh một lần, mỗi lần gọi tên một tù nhân người ta lại đánh vào chân họ một roi mây, mặc dù tù nhân có thưa có tôi. Đây là hình phạt cho những tù nhận nhẹ tội.

Những người bị kết án tử hình thì bị giam trong những nhà tù còn kinh khủng hơn nữa, cả đêm và ngày họ đều không được ra ngoài, ngay cả khi muốn đi vệ sinh. Những người này thay vì phải đeo gông thì họ phải đeo một cái xích to và nặng, chân họ cũng phải mang xiềng xích nữa. Những cánh cửa của cái địa ngục này không bao giờ được mở ra trừ khi họ mang các tù nhân đi xử trảm. Cứ ba ngày một lần họ cho mỗi tù nhân một tô cơm, họ đưa cơm cho tù nhân qua một cái lỗ. Cho tù nhân ăn cách này không phải là cách nuôi các tử tù, họ không để các tù nhân chết đói, nhưng họ dùng cái đói để hành hạ các tù nhân. Vì quá đói có những tù nhân đã ăn cả quần áo của họ.
Trong những nơi ghê tởm này họ đã ném những nhà truyền giáo đáng kính của chúng ta vào đó. Mấy ngày sau khi Cha Tùy bị trảm quyết, chúng tôi đựơc biết rằng các quan đã hối tiếc vì đã nhận tiền của chúng ta để xin tự do cho Cha. Họ đã trả lại tiền cho chúng ta vì họ đã không thể xin trả tự do cho Cha Tùy được. Sau khi mặc cả với họ qua một thầy thuốc có đạo như tôi đã nói ở trên, họ thoả thuận với chúng tôi là lấy mười thỏi vàng, không kể những chi phí ngoại lệ, mà những chi phí ngoại lệ cũng không phải là ít. Tôi cũng nghĩ rằng cần phải mua bình an bằng cái giá này, bởi vì các tín hữu đang sống trong sự sợ hãi không thể miêu tả được. Tôi đã hứa là sẽ đưa cho các quan trước hai phần, phần còn lại thì các tín hữu phải lo. Việc lo liệu này gần kết thúc thì chúng tôi lại rơi vào những sự túng quẫn lớn hơn trước.
Ngày mùng 02 tháng 11 vừa qua, tôi đã nhận được lá thư của một tín hữu, ông là một trong những nhà buôn giầu nhất tỉnh này, ông đã cho tôi biết rằng trong ba ngày nữa thì sẽ có cuộc cách mạng lớn; ông ấy đã cho tôi biết tất cả những bí mật của sự mưu phản. Ông đã nói với tôi một cách hối tiếc rằng ông không thể tới gặp tôi trực tiếp được, ông ấy xin tôi dâng một thánh lễ cho công việc này đạt được kết qủa tốt.
Tôi thật sửng sốt khi đọc lá thư này, quả thật là một dự án nực cười. Không có điều gì tồi tệ hơn là kế hoạch này nữa ; nó không có một người nào đứng đầu, không có vũ khí, không đạn dược thế mà nó phải cướp lấy tỉnh Nghệ An, hy vọng rằng các tỉnh khác cũng sẽ bắt trước cái tỉnh này, và một điều không thể tin được đó là tất cả mọi người tín hữu hay không đều có vẻ muốn tham gia vào kế hoạch này. Đây là một kế hoạch nghiêm trọng làm cho chúng ta phải chóng mặt, nó làm bàng hoàng cả những người không tham dự vào kế hoạch này, nhưng bởi vì tất cả mọi người đều đã quá mệt mỏi với cách trị vì của Minh Mệnh. Từ trước tới nay chưa bao giờ có nhà vua nào mà bị người dân ghét bỏ như ông vua này, ai cũng muốn thay đổi sự cai trị của ông, chính vì vậy mà họ muốn lật đổ nhà vua. Mặt khác dân ngoại hứa sẽ để cho các tín hữu tự do giữ đạo, và để có sức thuyết phục các Kitô hữu, họ đã dùng tên của Đức Khâm Mạng Toà Thánh và cả tên của tôi nữa cho công việc này. Mặc dầu vậy tôi rất hạng phúc vì đã ngăn cản được một số lớn tín hữu tham gia vào công việc nguy hiểm này. Những người này đã kể lại cho tôi rằng họ tin chắc là sẽ thắng cuộc mưu phản và họ sẽ không cần phải chốn tránh nữa. Đêm hôm trước ngày mà cuộc đảo chính phải xảy ra, một trong những viên quan lớn trong làng, trên đường đi nghỉ đã phát hiện ra một người thanh niên bởi cách đi của anh ta không bình thường, viên quan đi theo anh ta và đã chặn anh ta lại. Sau một vài cú roi mây, anh thanh niên đã thú thật mình là ai và họ đã tìm thấy trong người anh mảnh giấy, trong đó viết tất cả những bí mật của việc đảo chính ngày mai. Một viên quan thuộc hạ là người cũng tham gia vào cuộc đảo chính này khi biết được sự việc đã bị lộ ông đã dùng mưu là bắt một vài người đứng đầu cuộc đảo chính rồi nộp cho nhà vua,

ông ấy còn nói với nhà vua rằng ông ấy giả vờ tham dự vào cuộc đảo chính để khám phá ra hết sự thật; việc can thiệp này cũng không giải quyết được gì, vì người thanh niên kia đã bị đưa vào tù cùng mấy người đứng đầu cuộc đảo chính. Ngoài ra họ còn bắt giam một vài tín người khác nữa. Trong số những người bị tố giác chỉ có một vài tín hữu, mặc dầu vậy họ vẫn vu cáo là các tín hữu tổ chức cuộc đảo chính này. Các quan đã tin như vậy và đã hành hạ các tín hữu, đây là một cách phòng ngừa ghê tởm. Còn chúng tôi, thì chúng tôi không biết qua sự việc này rồi điều gì sẽ xẩy ra cho chúng ta nữa. Các tín hữu của chúng ta đang sống trong sự sợ hãi không thể miêu tả được, họ sợ nhà vua cũng sẽ tin là các tín hữu có mưu đồ lật đổ ông. Họ sợ rằng nhà vua sẽ trở nên hung giữ hơn và sẽ trừng phạt tất cả các tín hữu vô tội chỉ vì một vài tín hữu đã dính dáng vào chuyện này.
Ban ngày các tín hữu phải dấu kín tôi một cách tuyệt đối, ban đêm thì họ cho tôi ngủ trong một ngôi nhà nhỏ bên bờ một dòng sông, một số người nam cach thức chung quang ngôi làng mà tôi ở để khi có chuyện ghì thì kịp thời báo ngay cho tôi. Họ chuẩn bị sẵn một chiếc xuồng, để trong trường hợp khẩn cấp họ có thể đưa tôi đi tới một cái hang trên quả đồi ở ngôi làng bên cạnh, đường đi tới đó thì rất khó khăn và hiểm trở, vì vậy sẽ không có ai để ý tới. Đứng trước sự việc này các quan cũng rất lo ngại, họ lo ngại vì số người tham dự vào cuộc đảo chính cũng khá đông, vì vậy tôi hy vọng rằng khi nhìn thấy con số đông này họ sẽ nhẹ tay hơn và có thể thay đổi cách cai trị nữa. Quả thật điều đó đã xảy ra. Họ đã tra tấn những người bị bắt giam, nhưng không đánh đập những người này như trước. Một trong số những tù nhân đã trả lời rằng những người tòng phạm gồm cả các quan nữa. Một người khác thì nói rằng nếu các quan mà còn hành hạ các tù nhân thì hơn một nửa số các quan sẽ chống lại việc này. Qua sự quả quyết của các tù nhân, các quan cũng cho rẳng sự việc sẽ trở nên quan trọng nếu họ hành hạ thậm tệ các tù nhân để biết được sự thật, họ cũng sợ rằng họ sẽ bị vu cáo là tòng phạm nữa. Các quan có trách nhiệm trên các tù nhân cũng muốn giải quyết việc này càng nhanh càng tốt. Họ đã viết thư cho nhà vua, và ông đã nhanh chóng trả lời các quan rằng chỉ bắt giam và trảm khuyết những người thực sự có tội. Vì vậy họ đã giết tất cả những người bị bắt, sự việc đã kết thúc tại đây, con số những người bi giết là 16 người.
Thật sự là vô ích nếu nói với các cha là trong suốt cuộc ẩu đả này không một ai dám mở miệng ra để nói về các linh mục và các vị thừa sai. Bởi vì họ là những người mà các quan có thể giềt chết bất cứ lúc nào, ngay cả khi các quan đã nhận tiền để xin tự do cho họ, và các quan cũng biết rõ rằng các tín hữu không phải là những người phản quốc, họ cũng biết rằng các Kitô giáo chỉ làm những điều tốt mà thôi. Như mẫu gương của cha Tùy vậy, ý thức rằng không bao giờ nói rối để chốn tránh cái chết ; hơn thế các tín hữu còn chống lại những người muốn lật đổ nhà vua. Ngài tổng trấn còn nói với các tín hữu là cầu nguyện cho chuyến đi bắt bớ những người phản quốc khác của ông được thành công, vì ông biết trận chiến này của ông rất nguy hiểm, bởi vì họ là những người phản quốc thật sự, và con số thì lại đông nữa. Các vị giảng đạo của chúng ta một lần nữa lại được trả tự do; mà chúng tôi không phải trả đồng nào, cũng chẳng cần ai bảo lãnh cả. Đây qủa thật là Hồng Ân của Thiên Chúa.
Hình như tất cả các cuộc bạo động này đều làm cho nhà vua lo ngại, và với lý đó khi nhìn vào cách cai trị của nhà vua,

họ thấy rằng giờ chết của ông không còn xa nữa. Nhà vua vừa ban ra một bản liệt kê tất cả những rủi ro của hoàng cung trong khoảng thời gian vừa qua ; bệnh dịch hạch, cái đói, sự phản quốc trong cả nước vv…ông không biết lý do từ đâu mà ra ; điều này cò thể nói lên rằng chưa bao giờ nhà vua lại quan tâm đến dân như vậy ; chính vì thế, nhà vua đã liệt kê một danh sách thật dài những đức hạnh của mình : ai cũng phải thú nhận rằng triều đình đã gặp quá nhiều rủi ro. Nhà vua cho rằng do sự hà tiện và cách cư xử không công chính của các quan mà hoàng cung đã gặp những rủi ro này, nhà vua cũng cho rằng có thể ông đã không có đủ đạo đức. Chính vì vậy nhà vua đã thề với trời và đất ; ông đã ăn chay và từ bỏ tất cả những vui thú, ông đã giới hạn mức độ chi tiêu cho một ngày ăn của ông là 900 đồng (khoảng 4 francs) ; ngoài ra nhà vua còn trả lại một phần của cống, tiếp đó ông triệu tập một số người có khả năng rồi trao cho họ một số công việc xứng đáng. Đó là nội dung chính và nồi tiếng của bản tuyên ngôn của nhà vua. Điều này cũng chẳng làm cho các người công chính tin vào nhà vua.
Tôi lại vừa nhận được lá thư của một linh mục thuộc tỉnh Hà Tĩnh, ông thông báo cho tôi những tin rất buồn. Cho tới bây giờ thì các tín hữu thuộc tỉnh này không bị làm phiền nhiễu : ngoài việc thỉnh thoảng phải nộp một khoản tiền rồi thì các quan để cho họ bình an. Một trong những thư trước tội đã kể cho các cha rằng : có một vài lần các tín hữu không biết phải dấu tôi ở đâu, bởi vậy tôi đã tới cư trú ở tỉnh này. Nhưng các quan vừa gửi tới khắp mọi nơi trong tỉnh một số đông những người lính để cướp lấy các ngôi nhà thờ. Mà hình như họ muốn tiền hơn là muốn cướp phá các nhà thờ. Như thế đấy suốt ngày họ chỉ đòi tiền thôi. Ngoài ra, một người ngoại đạo biết được rằng có hai linh mục thuộc tỉnh này đang ở chung trong một ngôi nhà, ông ấy đã đi báo cho chính quyền và họ đã gửi ngay một số người lính tới để bao vây ngôi nhà đó vào ban đêm. May mắn thay, hai linh mục này vừa đi khỏi đây 15 phút trước khi họ tới để ban phép bí tích xức dầu cho hai bệnh nhân. Họ đã không bắt được hai linh mục nhưng chỉ bắt được một giáo lý viên tên là Phêrô Nhân, họ đã bắt ông ta phải đeo gông rồi nhốt ông vào tù, cùng với ông họ còn bắt giữ một người phụ nữ già vì bà là chủ nhà. Người ta nói rằng họ đã lục soát hết mọi nhà và họ đã tìm được nhiều đồ trang sức và áo lễ vv… Để xử lý nhanh việc của Phêrô Nhân ông lý trưởng đã dựng lên một câu chuyện không có thật ; ông nói rằng Phêrô Nhân không phải là giáo lý viên, ông chỉ là một người dân ở thôn này, ông đã lấy vợ từ lâu. Họ liền kiệu Phêrô Nhân ra để phỏng vẫn. Phêrô Nhân đã trả lời rằng ông là giáo lý viên, và ông chưa xây dựng gia đình, ông trả lời như vậy vì ông không muốn hùa theo sự dối trá của ông lý trưởng. Qua câu trả lời của Nhân, chúng ta không có một tia hy vọng nào là Nhân sẽ được sống cả. Hậu qủa của việc này là chúng tôi càng phải trốn tránh kỹ hơn, trước hết là cho tính mạng của chúng tôi và cũng là để tránh liên lụy cho những người cho chúng tôi ở trọ. Các cha có thể đoán được sự khó khăn hiện nay của chúng tôi. Ở giữa một con số đông các tín hữu mà chúng tôi không thể tới thăm các bệnh nhân được. Các tín hữu buộc phải mang các bệnh nhân tới một nơi thật kín đáo vào ban đêm, để các linh mục có thể tới ban phép xức dầu cho họ rồi các ngài lại phải đi ngay.
Đó là tình hình hiện tại của chúng tôi, tôi gửi gắm công việc truyền giáo này vào lời câu nguyện của các cha và vào Hiến Tế Hy Sinh của Đức Kitô".
« C. MASSON »