Quan
đội Tống Viết Bường
sinh tại Phủ Cam
gần kinh thành Huế,
trong một gia đình Công
Giáo và có chức tước
trong triều đình.
Trong thời gian đi lính,
ngài tỏ ra lanh lợi
và can đảm nên được
vua Minh Mệnh cho làm
cai đội coi 50 người,
về sau ngài còn được
cất nhắc lên làm
quan thị vệ. Quan
Phaolô Bường một
mực giữ đạo,
hết lòng thờ phượng
Chúa và trung thành
với vua.
Khoảng
năm 1831, có giặc cướp
đến phá phách ở
Đá Vách thuộc
tỉnh Quảng Ngãi,
vua sai ngài đi dẹp
giặc. Khi trở về
ngài tâu trình với
vua thì vua hỏi ngài
có đến chùa Non Nước
không, nhưng ngài khéo
léo thưa lại rằng:
"Vì Bệ Hạ không
có dậy bảo nên
thần chẳng dám đi".
- "Thường thường
các quan khi dẹp
giặc yên trở về
hay đi viếng chùa
sao ngươi lại không
đi?" - "Hạ
thần là người có
đạo Công Giáo nên
không đi viếng chùa".
Vua
Minh Mệnh liền nổi
giận mắng nhiếc và
ra lệnh bắt ngài
bỏ đạo. Quan đội
Bường nhất quyết
một mực xưng đạo
nên bị đánh 80 trượng
và tước đoạt các
chức tước, và
phải đầy làm tôi
tớ trong cơ binh.
Nhờ đút lót tiền
cho quan, ông được
về nhà thong dong.
Một
năm sau, nhân khi vua
Minh Mệnh ra lệnh kê
khai các lính thị
vệ có đạo mới
thấy thiếu tên ông
đội Bường, vua
liền ra lệnh bắt
ngài, năm ấy ngài
50 tuổi. Hôm ấy vào
tháng 12, 1832. Cha M.
De Lamotte, lúc ấy đang
giảng đạo tại
kinh đô Huế, viết
về cuộc xưng đạo
của quan đội Bường
như sau: "Tháng
12, quan đội Bường
cùng với 6 người lính
thị vệ bị bắt
giam trong ngục,
phải mang gông cùm.
Một người đã
chết trong tù ngày
8-3-1833. Một người
khác cũng anh hùng xưng
đạo là ông Tađêo
Quyền, con rể của
quan đội Bường".
Có
một hôm, quan coi
ngục muốn đổi gông
nhẹ cho đội Bường,
nhưng ngài đã thưa
lại rằng: "Xin
quan bỏ thêm xích
xiềng cho nặng hơn
vì trước đây họ
có đánh tôi nhưng cũng
chưa đủ".
Trong
những lần tra khảo,
đội Bường một
mực chỉ nói về đạo
mà thôi. Nếu quan ra
lệnh bỏ đạo thì
ngài thưa: "Tôi
nhất định không
chịu. Chúa đã
dựng nên trời đất
muôn vật mà tôi
thờ phượng xưa
nay, làm sao tôi có
thể bỏ được?"
Mỗi
lần khẳng khái thưa
như vậy thì ngài
lại bị đánh đòn.
Lính cố gắng kéo
chân ngài qua ảnh
chuộc tội song ngài
cố co chân lên và
la lớn rằng: "Đây
là việc quan lớn làm,
tôi không chiều theo
đâu".
Đánh
đòn không ăn thua gì,
quan lại dỗ dành và
bảo: "Này, hãy
theo thời mà sống.
Bây giờ vua đang cơn
thịnh nộ thì hãy
tạm vâng lời bỏ
đạo đi cho đẹp lòng
vua một lúc, sau này
sẽ hay, việc chi mà
phải cứng cỏi làm
vậy?"
Quan
đội Bường thưa
lại: "Quan lớn
có lòng thương tôi
thì tôi xin thưa
rằng: hãy để tôi
trọn một lòng trung
hiếu cùng Thiên Chúa
của tôi".
Khi
bị giam ở trấn
phủ, ông bị tra
khảo 3 lần mỗi tháng.
Ở trong tù ông thường
khuyên nhủ các đồng
đạo cũng bị giam
như sau: "Chúng
ta hãy vui lòng chịu
mọi sự khốn khó
để giữ nghĩa cùng
Chúa cho đến khi nào
thánh ý Chúa định
thể khác. Nếu quan
có hành hạ thì cũng
để mặc. Hễ xác
chết rồi thì hồn
chúng ta bay thẳng
về trời, không sợ
gì roi đòn. Chịu
sự khó như vậy là
vác thánh giá theo Chúa
Giêsu. Nếu có đau
đớn quá thì hãy
xin Đức Mẹ phù
trợ cho được bền
lòng đến cùng".
Có
lần mấy người
ngoại đạo khuyên
dụ các lính trẻ
chối đạo, đừng
theo gương ông đội
Bường đã già, nhưng
hãy nghĩ đến vợ
con, cha mẹ ở nhà,
như vậy có phải đi
đạo là tốt không?
Lập tức ông đội
Bường trả lời
ngay: "Bên đạo
chúng tôi ai chết
trẻ là đi đường
tắt, ai chết già là
đi đường trường.
Song đàng nào cũng
tới quê thật là nước
thiên đàng vậy".
Sau
nhiều ngày giam tù và
khuyên bảo không
được, các quan làm
án xin vua ra lệnh
xử tử, song vua
muốn hành hạ
nhiều hơn. Dầu
vậy ngài vẫn một
mực trung thành, các
quan tâu lại với
vua rằng: "Người
Công Giáo thật
cứng lòng, dù có
gia hình đến đâu cũng
không thay đổi,
vậy xin theo phép nước
mà khép án cho xong,
kẻo để lâu ngày
mất công vô ích".
Lúc
ấy Vua Minh Mệnh
mới ưng cho các quan
bộ hình ra án trảm
quyết và phải bêu
đầu quan đội Bường,
người thông ngôn
Micae, con rể quan đội
Bường, và 6 binh sĩ:
Vui, Mang, Quân, Hang,
Minh và Phú.
Riêng
quan đội Bường
phải đem đi xử trước
vào ngày 23-10. Khi
hay tin, ngài gọi các
bạn tù lại và xin
họ cầu nguyện cho
ngài được ơn bền
đỗ xưng đạo Thánh
Chúa và cũng để
từ giã họ nữa.
Tới giờ, lính đến
điệu ngài đi. Lúc
bấy giờ đã chiều
tối họ phải mang
đuốc đi theo. Đi đầu
là một tên lính
cầm bản án rao to
rằng: "Người này
bị xử vì theo đạo
Gia Tô, nên phải
xử trảm quyết, đầu
treo 3 ngày". Họ
đi rất nhanh, đội
Bường nói đùa
với họ: "Các
bạn việc gì mà
phải đi nhanh thế?
Tôi biết đường mà,
chúng ta không lạc
đâu!"
Khi
đến họ Thợ Đúc,
gần Trường An, vua
còn sai quan đến
khuyến dụ ngài đạp
ảnh chuộc tội để
được tha. Quan nói
rằng: "Đội Bường,
ông không phải là tướng
cướp, cũng không
phải là tên giặc.
Ông không có tội gì
ngoài tội theo đạo
Công Giáo, ông hãy
xuất giáo rồi vua
sẽ tha cho ông và hoàn
cấp bực lại cho ông".
Ngài
liền thưa với quan
giám sát rằng:
"Xin điệu tôi
đi xử cho mau, cho tôi
được về với Chúa,
còn việc bỏ đạo
thì không bao giờ tôi
theo".
Lúc
ấy cô con gái của
ngài cũng ra nhìn
mặt cha lần cuối.
Nơi xử là nền nhà
thờ cũ của họ
Thợ Đúc. Nhưng
cầu sang bên ấy
bị gẫy nên lính
cho xử ngài ngay
tại gần nhà con gái.
Ngài xin họ cho ít
phút để cầu
nguyện. Khi đã sẵn
sàng ngài nói với
họ: "Việc tôi
đã rồi". Người
lính đao phủ liền
chém đầu ngài. Quan
cho phép đem xác ngài
đi chôn, còn đầu
phải bêu tại nền
nhà thờ Thợ Đúc 3
ngày theo lệnh của
vua. Đức Thánh Cha
Leo XIII tôn phong ngài
lên bậc Chân Phước
ngày 27-5-1900.