Mở
đầu bài tường
thuật hết sức đặc
biệt về cuộc tử
đạo của Thừa Sai
Bonnard, Đức Cha
Retord đã viết:
"Từ khi tôi
tới Bắc Việt đã
viết bao nhiêu bài tường
thuật các biến cố
oai hùng của những
người kiên trung xưng
đạo. Nhưng hôm nay
tôi sắp sửa tường
trình một việc không
những liên hệ tới
xứ truyền giáo
của chúng tôi mà còn
liên hệ đến toàn
thể giáo hội nữa,
đó là cuộc tử đạo
của Jean Louis Bonnard".
Trong
lá thư viết cho vị
anh hùng tử đạo trước
ngày bị hành quyết,
Đức Cha Retord đã mượn
ý tứ của tên Hương
để nói với vị
anh hùng: "Cha xin
tôi chúc lành, tôi
đã chúc lành cha
ngay từ khi cha đặt
chân tới xứ
truyền giáo này, nó
sẽ theo cha về nơi
vĩnh cửu. Thật
vậy tôi đã chúc lành
cho cha khi đặt tên
cho cha là cha Hương,
một tên thật đẹp
bao gồm ý nghĩa cha
của quê hương, cha
của hương dâng, cha
của hương thơm. Lúc
này quê hương yêu
dấu hiển hiện ra sáng
chói trước mặt và
cha sắp sửa trở thành
một người công dân
hạnh phúc. Chính lúc
này hương trầm quí
giá sắp được đốt
trên bàn thờ tử đạo
và khói hương của
nó bay bổng lên tòa
cao của đấng vĩnh
cửu. Chính lúc này
hương thơm ngây
ngất làm say mê Chúa
Giêsu như xưa Maria
Mađalêna đã làm và
hương thơm còn làm
vui sướng các thiên
thần và loài người,
trên trời cũng như
dưới đất. Như
thế tôi đã chúc lành
cho cha đã từ lâu
rồi vậy. Tuy vậy tôi
còn chúc lành cho cha
nữa, xin Thiên Chúa
là sức mạnh nâng
đỡ cha ngoài pháp
trường của các dũng
sĩ, xin công nghiệp
của Chúa Con an ủi
cha trên đồi Calvariô
cha sắp bước lên,
xin tình yêu sốt
mến của Chúa Thánh
Thần chiếu sáng tù
ngục cha sắp bước
ra khỏi để lãnh
triều thiên tử đạo.
Bạn yêu dấu, hãy
được chúc phúc và
khi bạn lên trời,
đến lượt bạn chúc
phúc cho chúng tôi,
cho xứ truyền giáo
và cho các giáo dân
mà cha hằng quí
mến. Xin hãy là
trạng sư, là người
bầu cử cho chúng tôi
còn đang bước đi
trong vũng bùn dương
thế. Xin bầu cử
cho chúng tôi sớm
được hợp hoan
với cha".
Vị
anh hùng đặc biệt
mà Đức Cha Retord nói
tới chính là Cha
Bonnard Hương, sinh
tại Christoten Jarret
ngày 1-3-1824 trong
một gia đình đạo
hạnh từ nhiều đời.
Từ khi được 10
tuổi cậu Bonnard đã
đi tu nhưng mãi đến
năm 20 tuổi cậu
mới tốt nghiệp
chủng viện Lyon và
vào chủng viện
truyền giáo Paris.
Sau
khi chịu chức linh
mục hai tháng, cha đã
xuống tầu Nantes để
sang Á Đông. Cha đến
địa phận vào mùa
Phục Sinh năm 1850
giữa cơn dịch tả
đang hoành hành. Cha
bắt tay ngay vào
việc học tiếng
Việt Nam và cuối năm
1850 cha đã bắt đầu
giải tội và giảng
dậy tại nhà thờ.
Đức Cha Retord dẫn
Cha Bonnard đi theo làm
việc mục vụ tại
các họ cho quen
biết và thành thạo
các phương pháp làm
việc truyền giáo.
Cha đã tỏ ra là
một linh mục hiền
hòa, sốt sắng vâng
lời và nhiệt thành
việc tông đồ, cha
vừa hiền lành khiêm
nhường vừa đơn sơ
thành thật. Trước
những đức tính cao
quí ấy, Đức Cha
Retord biết chắc
vị thừa sai trẻ
tuổi này sẽ có
sức đương đầu
với các sóng gió.
Cuối tháng 4-1852, Đức
Cha chỉ định Cha
Bonnard coi hai xứ
Kẻ Báng và Kẻ Trình
trong khi vua Tự Đức
mới ra lệnh cấm đạo
năm 1851.
Mùa
Chay năm 1852 Cha
Bonnard cùng với năm
cha Việt tổ chức
tuần đại phúc và
giảng cấm phòng cho
giáo dân Kẻ Báng.
Sau đó họ Bối Xuyên
mời Cha Bonnard sang làm
phúc cho họ. Cha
Thảo khuyến khích
ngài cứ yên tâm
sang họ Bối Xuyên,
một họ chỉ có
khoảng mười gia đình,
một phần tư dân
số của làng. Đến
Bối Xuyên giúp giáo
dân ba ngày, Cha
Bonnard đang muốn đi
thì giáo dân năn
nỉ xin cha ở lại mà
không ngờ có một
người đã đi báo
quan. Thế là ngày
21-3 quan huyện Nghĩa
Hưng mang quân đến
bắt cha.
Chính
Cha Bonnard trong thư
đề ngày 2-4 đã
thuật lại cuộc vây
bắt như sau: "Vào
lúc 9 giờ sáng tôi
đang làm phép rửa
tội cho khoảng hai mươi
lăm trẻ em nhưng chưa
xong thì quan ập đến
đầu làng mà tôi không
hay gì. Tức thì người
giúp việc giật áo
các phép rồi đẩy
tôi đi trốn, tôi
lội xuống ao nước
ngang lưng để sang cánh
đồng lúa cùng với
Thầy Kim. Trong khi phân
vân không biết
chọn hướng nào đi
trốn thì lính ập
đến trói tay tôi
lại thật chặt đến
nỗi sưng lên khiến
tôi phải kêu xin
nới rộng nhưng họ
không cho nên tôi đành
chịu vậy. Thế là
họ bắt tôi, thầy
Kim và chú Ba, người
đi theo mang mấy đồ
cần cho tôi. May mà
tôi đã ra khỏi làng
nên các đồ đạo và
dân chúng không bị
bắt. Bọn lính lôi
tôi đi trên bùn
rất nhanh được
một lúc thì tôi
kiệt sức, máu
chảy dưới chân. Tôi
cười nói với lính
áp giải: 'Việc gì
mà vội thế, các ông
muốn vội thì đi trước
đi, tôi từ từ đến
sau�.
Trên
đường dân chúng đổ
xô ra xem. Tới tối
thì về đến huyện,
người của Cha
Thảo mang 10 nén
bạc để thương
thuyết hay ít nhất
xin họ tha thầy Kim
và chú học trò. Nhưng
mọi cửa đóng kín,
quan đang say sưa
uống rượu với
kẻ tố giác. Sáng hôm
sau họ giải ba chúng
tôi về tỉnh Nam Định".
Sau
đó ngài bị tra
hỏi tại huyện về
tên tuổi và thời
gian đến đây. Về
câu hỏi tại sao đến
ở Bối Xuyên, Cha
Bonnard nhất mực không
trả lời, Thầy Kim
cũng vậy, giữ im
lặng để tránh
phiền lụy cho dân làng.
Sau đó quan bắt ngài
đeo gông. Tối hôm
ấy cha được ngủ
dưới ổ rơm trống
trải tứ phía. Cha
lần mò hỏi han xem
có cách nào chuộc
cho hai người bạn tù
không nhưng họ trả
lời không có cách nào
cả. Quan huyện có
họ với vua đã làm
một tờ trình đầy
phô trương như mang
chín đội quân trên
năm trăm người đi
bắt... Cha Bonnard phó
mặc trong tay Chúa.
Khi
bị giải lên tỉnh,
cha được ngồi võng
cho họ khiêng đi,
cổ vẫn mang gông.
Tới sảnh đường
họ trói cả ba tù
nhân đức tin vào
một cây cột lớn,
trước đám đông dân
chúng hiếu kỳ đến
xem. Sau nửa giờ
quan tổng đốc ra
nhận tù mà không nói
lời nào, sau đó lính
dẫn các ngài vào nhà
tù. Cha Bonnard tự
nhủ: "Tôi mang
theo áo Đức Bà, tràng
hạt và thánh giá cùng
với gông xiềng là
kho tàng tôi sẽ không
đánh đổi kể cả
ngai vua".
Đức
Cha Retord hay tin đã
sai người tới săn
sóc và kèm thư an
ủi. Vài ngày sau,
Cha Tịnh (tử đạo
sau này) đến giải
tội và trao Mình Thánh
Chúa cho ngài. Nhân
dịp này Cha Bonnard
viết thư nói lên tâm
tình ở trong tù:
"Thật vậy,
phải ở trong tù đeo
gông mang xích mới có
thể diễn tả sự
ngọt ngào được
chịu khổ đôi chút
vì Đấng đã yêu
mến chúng ta quá
bội. Xích gông có
nặng nhưng không làm
khổ chúng tôi, trái
lại tôi biết rằng
thánh giá của Chúa
còn nặng hơn gông
chúng tôi mang, xích
xiềng của Ngài còn
khó mang hơn xích
của chúng tôi. Tôi
vui mừng mà nói được
rằng tôi bị xích cùng
với Chúa Kitô".
Đời sống ban đầu
trong nhà tù còn dễ
chịu, có người đến
thăm hỏi, nhưng về
sau quan cấm không
cho ai lui tới, vị
anh hùng cảm thấy cô
đơn và cuộc chiến
trở nên gay go.
Cha
Bonnard bị điệu ra
trước mặt quan
lớn tra hỏi bốn
lần. Lần thứ
nhất quan hỏi:
"Tên ông là gì?"
-"Tên
Việt Nam của tôi là
Hương, tên gia đình
là Bonnard".
Các
quan lúng túng mãi vì
không biết đọc và
viết tên của ngài
như thế nào, sau cùng
ghi là Bona, và hỏi
tiếp:
-
"Ông bao nhiêu
tuổi?"
-
"29 tuổi".
-
"Ông người nước
nào và đến đây
từ bao lâu?"
-
"Tôi người Pháp,
đến đây từ hai năm,
trước hết bằng
tầu Pháp đến Macao
rồi bằng tầu nhỏ
của người Trung Hoa".
-
"Ông xuống từ
hải cảng nào?"
-
"Tôi không còn
nhớ rõ".
-
"Các nơi ông đã
đi?"
-
"Tôi đi rất
nhiều nơi không còn
nhớ tên, nếu tôi
nhớ tôi cũng không
bao giờ nói cho các
quan biết".
-
"Ông làm gì ở
Bối Xuyên?"
-
"Tôi qua đó có
vài công chuyện
chứ không định ở
lại đó".
-
"Ông ở nhà ai
tại đó?"
-
"Tôi không muốn
nói".
Cứ
thế các quan vặn
hỏi để tìm cách
bắt tội người giáo
dân Việt Nam và
kiếm thêm tiền đút
lót. Biết vậy nên
cha Bonnard vừa cười
vừa nói:
-"Các
quan cứ việc đánh
đòn tôi đi theo như
ý thích các quan, đừng
trông tôi khai một
lời nào có hại cho
giáo dân. Tôi đến
đây để phục vụ
cho đến chết".
-
"Chúng tôi không
muốn làm hại dân".
-
"Vậy tại sao các
quan cứ ép buộc tôi
khai ra người đã
cho tôi trú?"
Mọi
người chỉ biết cười.
Quan hỏi tiếp:
-
"Ông có muốn đạp
ảnh dưới chân không?
Nếu ông ưng chịu
chúng tôi sẽ gửi
trả ông về Tây Phương.
Ngược lại, ông
sẽ bị đánh đòn và
kết án phải xử
tử".
-
"Tôi đã thưa
với các quan lớn là
tôi không sợ roi đánh
cũng chẳng sợ
chết, tôi sẵn sàng
chịu mọi hình khổ,
còn bắt tôi làm
một tội ghê tởm
thì không bao giờ tôi
chịu theo. Tôi đến
xứ nầy không phải
để chối bỏ đạo
của tôi hay làm gương
xấu cho các tín
hữu".
Nghe
những lời khôn
ngoan vững mạnh như
thế, các quan im
lặng và sai mang ngài
trở về nhà tù.
Ngày
hôm sau các quan lại
cho điệu ra tra hỏi
những câu hỏi như
hôm trước và cũng
không biết được
thêm gì. Các quan nói
với nhau chúng ta không
có cách nào biết
ngoài việc tra hỏi
hắn. Cha Bonnard lại
được cho về nhà tù.
Lần
thứ ba quan cho điệu
Cha Bonnard và Thầy
Kim ra công đường
để thúc ép tiết
lộ tên người cho
trọ và những nơi
đã đi qua. Cha
Bonnard trả lời:
"Chính vì để làm
ích cho người đồng
hương của quí quan
chứ không phải để
làm hại họ mà tôi
bỏ Âu Châu đến đây.
Nếu tôi, một người
ngoại quốc, còn yêu
mến nhân dân xứ này
và không muốn nói
điều gì có hại
cho họ thì các quan
càng có lý mạnh hơn
là cha mẹ của dân
phải tránh những câu
hỏi có hại cho họ
chứ?"
Cha
Bonnard học lời khai
của Cha Charrier nói
thêm rằng: "Nếu
tôi bị bắt ở
tỉnh khác, các quan
có muốn tôi khai ra
rằng tôi ở trong
tỉnh này của quí
quan không? Và nếu tôi
khai như thế các
quan có bị khiển trách
không?"
Không
lung lay được vị
thừa sai, các quan
nạt nộ Thầy Kim.
Cứ mỗi lời của
Thầy Kim họ kèm
theo lời dọa nạt và
roi đánh. Thầy bị
đánh hai chục roi,
miệng ú ớ. Cha
Bonnard lại lên
tiếng với giọng
mỉa mai: "Tôi
biết rõ việc của
các ông và tôi cũng
biết các câu hỏi
đều dư thừa. Nếu
các quan muốn tránh
khỏi bẽ bàng và
bớt khổ cho người
này, các quan hãy làm
tờ trình một cách
khôn ngoan. Các ngài
không thấy rằng đánh
đập người trẻ này
chỉ có được
những lời khai dối
trá làm liên lụy đến
những người vô
tội sao?"
Trước
những lời nói khí
phách và sâu sắc
của ngài, các quan
bảo Thầy Kim đến
hỏi cha để trả
lời các câu hỏi
cho hợp và các quan
có thể kết thúc
nội vụ. Cha Bonnard
đọc cho thầy viết
lời khai rất chính
xác và an toàn.
Lần
sau cùng các quan yêu
cầu Cha Bonnard viết
một ít lời khai
bằng tiếng Pháp
về tên tuổi việc
làm như đã hỏi
trong các lần trước
để trình vua. Riêng
các thầy mỗi lần
bị tra hỏi đều
bị đánh đòn hai
chục roi. Trong khi
bị đánh, Thầy Kim
vạch một dấu thánh
giá để nhìn vào đó
suy gẫm các khổ hình
của Chúa Giêsu.
Trong lần thứ ba
quan đem ra một bức
tượng thật to
bằng đứa trẻ 12
tuổi tịch thu được
trong nhà các cha Đaminh,
chỉ còn nửa đầu,
tay chân bị gẫy, và
bắt các thầy hôn.
Các thầy từ chối
vì không biết là tượng
Chúa hay tượng
Phật. Nhiều người
cười. Các quan thượng
muốn làm tờ trình
rằng hai thầy đã
đạp ảnh nhưng các
thầy đã chính
thức viết giấy
phản đối và xin
được chịu chết.
Tờ
trình của các quan
viết như sau: "Sau
khi tra xét ba tên tù
phạm ở công đường,
chúng tôi biết
rằng một trong ba người
là đạo trưởng Gia
Tô người Âu Châu.
Nó có mũi dài, râu
rậm, tóc ngắn và
mắt vàng, da trắng
bạch. Nó tự xưng tên
là Bona, người Pháp,
29 tuổi... Từ Macao
nó đến bờ biển
Việt Nam thấy có
thuyền đánh cá hai
người chèo làm
dấu thánh giá và đã
lên thuyền. Dấu thánh
giá là dấu người
theo đạo Gia Tô.
Nhờ đêm tối họ vào
được trong đất
liền. Hắn đã ở
nhiều nơi khác nhau,
không biết tiếng
Trung Hoa, khi nói có
pha nhiều tiếng Âu
Châu mà hắn không
biết giải thích. Đó
là một giống người
hoàn toàn khác với
chúng ta. Nó từ
chối trả lời các
câu hỏi. Đúng là tên
mọi rợ Âu Châu,
một tên đại
nghịch, không cần
chứng cớ nào khác
để kết án xử
tử..."
Sau
đó quan tường trình
về hai người Việt:
"... Còn về nơi
và làng tên Bona đã
đi qua chúng không
chịu khai. Chúng có
mồm sắt không
muốn mở miệng. Chúng
cũng không chịu đạp
ảnh và xin được
chịu chết. Tuy nhiên
chúng tôi sẽ xét
lại trường hợp
của chúng và tâu trình
hoàng thượng sau".
Bản
án được gửi về
triều đình ngày 5-4
và cuối tháng bản
phê án về tới
tỉnh. Đang đêm,
một giáo dân biết
được tin đích xác
đã thông báo cho các
giáo dân khác. Mọi
người nghĩ buổi hành
quyết sẽ xảy ra vào
buổi chiều nên các
giáo dân khắp nơi
đổ tuốn về thành.
Từ trưa, các đường
phố và cửa dẫn ra
pháp trường đã đông
nghẹt người. Thấy
vậy các quan muốn
tránh né đám đông
nên hoãn lại ngày hành
quyết vào hôm sau,
1-5, ngày đầu tháng
kính Đức Mẹ. Nhưng
ngày hôm đó giáo dân
từ xa cũng đến
kịp. Sáng sớm họ
đã kéo ra cánh đồng
quen xử các tội nhân.
Nhưng họ ngạc nhiên
khi thấy năm trăm lính
với gươm giáo sẵn
sàng đi theo hướng
ngược lại. Lính
phải vất vả lắm
mới có thể duy trì
trật tự để đến
nơi gọi là Đan
Thủy cạnh sông, cách
thành một dặm rưỡi.
Cha Bonnard vẫn giữ
vẻ mặt tươi vui hiên
ngang tiến đến nơi
hành hình. Tới nơi,
lý hình trói tay đàng
sau và buộc vào
một cọc thật
chặt đến rướm máu.
Lúc ấy các quan không
mang đủ dụng cụ
để tháo gông và
chặt xích nên phải
chờ đợi hơn một
giờ để đi lấy.
Trong khi ấy vị anh
hùng tử đạo vẫn
quì gối đọc kinh
sốt sắng như một
cột đứng vững.
Sau cùng khi đã tháo
gông và chặt xích,
vị quan giám sát đến
tận nơi túm tóc và
cột lên để giơ
cổ ra cho lý hình chém.
Quan giám sát trở
lại chỗ cũ trên mình
voi ra lệnh đánh chiêng.
Tiếng chiêng mới ngân
đến tiếng thứ ba
thì đầu vị anh hùng
đã rơi xuống đất,
máu phun ướt đẫm
áo. Lính cầm roi đánh
túi bụi vào đám đông
đang ùa vào thấm máu.
Chính các người lính
đã độc quyền
lấy áo quần của
vị tử đạo, gông
và ba móc sắt để
chia phần ra bán cho
dân chúng.
Thông
thường phải chôn xác
tử tội ngay tại
chỗ hành hình và giáo
dân đã sẵn sàng
quan tài và đồ
liệm, nhưng vị quan
không muốn cho giáo
dân có di tích gì
của tử tù nên
truyền cho một đội
quân đem xác và đất
thấm máu xuống
một chiếc thuyền
lớn, và một chiếc
thuyền khác chở
quan đi xuôi theo dòng
sông để tìm chỗ
vứt xác. Họ mang
theo lương thực đủ
ăn ba ngày. Giáo dân
cũng được lệnh chèo
thuyền theo sát. Đến
buổi chiều một
số thuyền đánh cá
khác chèo thuyền ra
phía bể. Vào
khoảng 8 giờ trời
tối, thuyền của
quan và lính đến địa
phận Tam Tòa đã
bỏ xác xuống và kéo
buồm trở về. Ngay
lúc đó giáo dân
nhận diện vị trí
và một lát sau các
thuyền đánh cá tụ
họp thay phiên nhau
lặn xuống để tìm
xác. Chỉ trong chốc
lát một người
thanh niên đã giơ
tay lên reo mừng:
"Tôi đã tìm
thấy".
Nhiều
người túm lại
lặn xuống để tháo
túi đá quan buộc vào
xác và đưa xác lên.
Vào khoảng một
giờ đêm các giáo dân
mang xác Cha Bonnard
về tới Vĩnh Trị.
Sau khi mặc áo chức
và tẩm liệm đủ
lễ bộ xác được
đặt trong quan tài
bằng gỗ quí để
giữa rừng đuốc sáng
trong nhà thờ cho dân
chúng bái kính cho đến
chiều hôm sau. Chính
Đức Cha Retord và ba
linh mục khác cùng
với chủng sinh làm
lễ an táng. Xác thánh
nhân ở mãi trong lòng
học viện Kẻ Vĩnh.