|
I.
ĐỊA LÝ, DÂN SỐ, ĐỜI SỐNG
Tên Công Giáo:
Giáo
họ Bằng Sở - Giáo xứ Sở Hạ - Giáo
phận Hà nội.
Địa chỉ hành chính: Thôn Bằng Sở - Xã
Ninh Sở - Huyện Thường Tín, Tỉnh Hà Tây.
Địa giới:
Phía Bắc: Giáp thôn
Đại Lộ.
Phía Đống: Giáp thôn Xâm Dương
3.
Phía Tây: Giáp thôn
Duyên Trường và thôn Hạ Thái.
Phía Nam: Giáp thôn Sở Hạ.
Phía Đông Nam có chợ Kệ là nơi giao lưu
buôn bán sầm uất. Phía Nam có đường giao
thông chạy từ đê Sông Hồng vào đường
Quốc lộ 1A. Đây là con đường mà dân làng
đắp thẳng tắp qua cánh đồng làng để
đưa hài cốt cụ Nguyễn Trãi về làng
Nhị Khê quê cụ, nên gọi là Đường Ma.
Diện tích làng trước đây là 365 mẫu
Bắc Bộ bằng 1. 314.000 m2. Nhưng đến năm
1965 Hợp Tác xã điều chuyển cho các thôn
khác trong xã nên hiện nay diện tích làng
chỉ còn lại 123,5 mẫu Bắc Bộ bằng
444.600 m2. Trong đó:
- Đất canh tác:
96 mẫu
= 345.600 m2
- Đất thổ cư:
18 mẫu =
64.800 m2
- Đất công (Đền Chùa, Nhà Thờ, Nghĩa
trang, sân vận động...):
9,5 mẫu =
34.200 m2
Hầu hết người dân trong làng sống bằng
hai nghề chính:
-
Sản xuất nông nghiệp (Chủ yếu là gieo
cấy lúa nước) .
-
Sản xuất hàng mây tre đan mỹ nghệ xuất
khẩu.
Đời
sống của các gia đình tương đối đồng
đều bậc trung. Hộ quá giầu hầu như không
có, hộ nghèo cũng không đáng kể 6 hộ (chiếm
2%)
Dân
số: Cả
làng có 320 hộ gia đình với tổng số
khẩu là: 1451 khẩu.
Trong
đó: Công Giáo 90.2%
= 1309 khẩu
Phật Giáo 9.8% =
142 khẩu
II.
LỊCH SỬ DỰNG LÀNG:
Làng Bằng Sở vốn là một làng ở đất
Kinh Kỳ (Tràng An) trong thành Thăng Long xưa.
Dân làng sống quây quần ổn định và đã
xây được một Đình làng tức Đình Hàng
Cót sau này. Để nhắc nhở con cháu muôn đời
sau sống cho thanh lịch văn minh xứng đáng
với nguồn gốc người Kinh Kỳ của mình.
Cho nên sau khi di chuyển về nơi định cư
mới, nhiều đời sau người dân Bằng Sở
còn truyền tụng câu:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch vẫn người Tràng
An”
Vào đầu thế kỷ XI Vua Lý Thái Tổ dời
đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên
là Thăng Long. Nhà vua muốn mở rộng kinh thành
nên cho di rời một số làng xã cho phù
hợp với quy hoạch. Bằng Sở là một làng
trong diện đó và đã di rời xuống phía
Nam định cư tại vị trí hiện đang ở bây
giờ.
Khi mới di chuyển vua cấp cho làng 200 mẫu
Bắc Bộ (720.000 m2).
Khu
này lúc đó đồng nước mênh mông lau lác
um tùm, nên gọi là Đồng Lác. trong vùng nước
mênh mông đó nổi lên 3 gò đất lớn và dân
làm nhà trên 3 gò đất đó, gọi là ĐẤT
BA GÒ.
Ph ư ơng tiện đi lại giao dịch giữa người
dân ở các Gò và vùng lân cận lúc đó đều
phải sử dụng thuyền, mảng.
Qua nhiều năm nước Sông Hồng tràn vào
mang theo Phù Sa bồi đắp. Sau này có làm đê
ngăn nhưng đê nhỏ và thấp. Đến năm 1915
lại bị vỡ đê nên đất Phù Sa càng bồi
nhiều hơn, nên đã tạo cho khu đất này thành
cánh đồng tương đối bằng phẳng và phì
nhiêu mầu mỡ. Lúc mới về định cư tại
đất Ba Gò số người còn rất ít và tập
trung vào 4 dòng họ là: Lê - Phạm – Phùng
- Đỗ. Đáng chú ý là dòng họ Lê, họ
của Thánh Lê Tuỳ sau này. Người dân hoàn
toàn theo đạo Nho và đạo Phật, hàng năm
dân làng vẫn tổ chức về tế lễ tại đình
Hàng Cót. Tục lệ này kéo dài mãi cho tới
thế kỷ XIX khoảng giữa triều Nguyễn
mới thôi (cũng vì lễ lúc này làng đã
theo đạo Công Giáo nhiều)
Bước đầu mới về định cư do hoàn
cảnh đồng nước mênh mông nên dân sống
bằng nghề đánh bắt tôm cá, vì thế họ
đã tự tạo ra dụng cụ đánh bắt là đan
lờ đó, đan dậm, đan giỏ bằng tre nứa.
Về sau cải tiến đan các đồ dùng khác như
nón, mũ đội đầu, đan vali đựng quần áo
và nghề hàng tre hình thành từ đó. Các
quan lại thời đó đặt mua cho lính đội
đầu nên gọi là nón lính.
Từ năm 1900 Quan lại và Thương gia Pháp đã
mua để gửi về Chính Quốc, về sau mua
nhiều thì hàng tre Bằng Sở thành mặt hàng
xuất khẩu, người dân gọi là hàng Tây. Năm
1926 hàng được trưng bầy tại hội chợ
triển lãm tại nhà Đấu Sảo Hà Nội. Đến
năm 1930 được sự giúp đỡ của Tổng đốc
Hà Đông Hoàng Trọng Phú, Cụ Đỗ Văn
Chấp đại diện cho dân làng đem hàng tre
đan đi trưng bày tại Hội chợ Pari – Pháp,
qua cuộc triển lãm này Cụ được phong hàm
Cửu phẩm. Từ sau cuộc triển lãm hàng tre
đan Bằng Sở được biết đến nhiều ở
Pháp.
Trong thời gian này quan công sứ Pháp đã
cho dựng một biển trước cổng làng với
hàng chữ: “Vanerie de Bằng Sở” để đánh
dấu một làng nghề, biển này được tồn
tại cho tới năm 1948 khi lính Pháp về đóng
ở làng mới bị pha bỏ.
Hàng tre đan Bằng Sở được duy trì và phát
triển cho đến Đại chiến thế giới lần
thứ hai (1939 – 1945) do có nhiều biến động
trên thế giới và ở Pháp nên hàng tre đan
Bằng Sở không xuất khẩu được nữa.
Năm
1954 Hoà bình lập lại hàng tre được khôi
phục và phát triển mạnh nhất là những năm
1966 đến năm 1972 hàng tre Bằng Sở được
công nhận là “Lá cờ đầu” của ngành
thủ công nghiệp Hà Tây. Và đến tháng 01
năm 2001 được UỶ BAN TỈNH cấp bằng công
nhận LÀNG NGHỀ.
Hàng
tre đan xuất khẩu là nguồn thu chính của
người dân chiếm 70% tổng thu nhập lúc đó.
Nay pha tạp nhiều ngành nghề dịch vụ nên
doanh thu chỉ còn 50 %.
III.
LƯỢC SỬ GIÁO HỌ:
1.
Quá trình hình thành và phát triển.
Lúc
đầu mới dựng làng cho đến đầu Thế
kỷ XVII toàn bộ dân trong làng theo đạo
Nho và đạo Phật. Đạo Công Giáo được
chớm nở ở năm 1627 – 1628. Vì người làng
thường dọc theo sông Kim Ngưu về Kinh Thành
bán hàng tre và họ đã được biết một
Giáo Sĩ ngoại quốc biết nói tiếng Việt,
lời lẽ giảng thuyết thật mới lạ, lại
rất hay. (Sau này mới biết đó là Đức
Cha Đắc Lộ). Người dân trong làng biết
về đạo Chúa từ đó. Về dau đến những
năm 1631 – 1638 đường đi lại trên Sông
Hồng và sông Kim Ngưu rất thuận tiện (Bằng
Sở nằm trên bờ sông Kim Ngưu) các Giáo sĩ
Phương Tây vào giảng đạo lúc này người
dân Bằng Sở theo đạo khá đông. Đến
giữa Thế kỷ XVII (khoảng 1641 – 1650) thì
gần hết làng đã theo đạo và hình thành
làng Công Giáo như giáo họ Bằng Sở hiện
nay.
2.
Nhà Thờ Giáo Họ:
Từ
khi người dân Bằng Sở theo đạo thì Nhà
Thờ được xây dựng. Lúc đầu làm bằng
tre gỗ và lợp lá. Nhà thờ này cũng đã
tồn tại trên trăm năm. Sau đó được dỡ
bỏ và thay thế bằng ngôi Nhà Thờ lớn hơn,
kiên cố hơn, diện tích khoảng 150 m2. Đến
năm 1917 thì Giáo Họ hoàn thành một Nhà
thờ khác (Nhà thờ hiện nay) Diện tích
khoảng 390 m2. Nhà Thờ cũ vẫn còn chuyển
thành nhà ở của Linh mục. Năm 1948 thực dân
Pháp về đóng bốt tại nhà thờ, họ đã
dùng nhà thờ chính để ở, phá đi nhà
thờ cũ (để có tầm nhìn ra bên ngoài).
Sau
ngày hoà bình lập lại giáo họ đã nhiều
lần sửa chữa tu bổ và gìn giữ. Những năm
gần đây xung quanh nhà thờ lại xây được
những công trình:
-
Đền Thánh Lê Tuỳ.
-
Hội Trường.
-
Nhà Giáo Lý – Nhà sách.
-
Nhà khách (Linh mục ở)
Vì
thế toàn bộ khu nhà thờ hiện nay rất
khang trang đẹp đẽ tổng diện tích là
7918 m2.
3.
Giáo hữu Bằng Sở sống đạo:
Người
Kitô Hữu trong Giáo họ Bằng Sở từ xưa
đến nay vốn hiền lành chăm chỉ, thầm
lặng sống với nhau chan hoà vui vẻ, đoàn
kết trong tình nghĩa xóm làng, một lòng
thờ phượng Chúa và sốt sáng việc tông
đồ truyền giáo:
-
Từ những năm xa xưa cuộc sống còn khó khăn,
nhiều người các nơi lang thang cơ nhỡ đến
làng đều được giáo họ rửa tội và
tạo cho họ lập nghiệp tại làng (vì thế
lúc đầu có 4 họ thì hiện nay 19 họ)
-
Những người ngoại giáo trong làng hoặc lân
cận, khi gặp khó khăn hoạn nạn trong cơn
hấp hối, dân họ đã đến xin về rửa
tội cho họ và lo mai táng chu đáo đàng hoàng.
-
Trong những ngày giặc Pháp về đóng bốt
tại nhà thờ, dân họ đã nhờ một gia đình
trong Giáo họ có nhà cửa sân vườn rộng
rãi cho mượn để làm nhà thờ tạm. Trong
suốt hơn hai năm (Từ tháng 2 năm 1948 đến
tháng 6 năm 1950) Giáo hữu vẫn thường xuyên
ngày 3 buổi: sáng, trưa, tối lại tới đọc
kinh cầu nguyện. Những ngày lễ lớn như
lễ Thánh Lê Tuỳ, lễ Phục Sinh (năm được
chưa lễ) vẫn được tổ chức đàng hoàng
long trọng.
-
Có lẽ nhờ đó mà Giáo Họ đã được
Hồng Ân Chúa ban. Lúc đầu là một làng
thuần Lương và Nho Giáo thì đến nay số
người Công Giáo là 1309 khẩu chiếm 90.2%
số dân trong làng.
-
Giáo Họ Bằng Sở cũng đã dâng hiến cho
Hội Thánh Công Giáo Việt Nam 10 Linh Mục (Xem
trang Cha bản hương).
-
Các đoàn hội Công Giáo đã có từ những
năm đầu của Thế kỷ XX, nhưng đến
những năm kháng chiến chống Pháp thì
lắng xuống, tan vỡ. Sau ngày Miền Bắc
được giải phóng (Tháng 5 / 1954) thì các
đoàn hội được phục hồi và thành lập.
Đến nay Giáo Họ đã đầy đủ các hội
đoàn vững mạnh phù hợp với từng lứa
tuổi:
1.
Hội Thánh Tâm (Lão ông
– 50 tuổi trở lên)
Số Hội viên 75.
2.
Hội Thánh Têrêxa (Lão bà – 50 tuổi trở
lên)
Số Hội viên 168.
3.
Hội Gia Trưởng (Trung
niên nam – các người cha trong gia
đình)
Số Hội viên 196.
4.
Hội Mân Côi
(Nữ trung niên – các người mẹ trong gia
đình)
Số Hội viên 264.
5.
Hội Kèn Đồng
(Nam trung niên + Thanh niên)
Số Hội viên 34.
6.
Ca Đoàn
(Nam nữ thanh niên + trung niên nam)
Số Hội viên 72.
7.
Huynh Trưởng
(Nam nữ vị thành niên)
Số Hội viên 65.
8.
Thiếu Nhi Thánh Thể (Thiếu nhi nam nữ)
Số Hội viên 120
*
Lãnh đạo điều hành mọi hoạt động
của các Hội đoàn và chung Giáo Họ là :
Ban
Hành Giáo Đương Nhiệm
1.
Phêrô Bùi Đình Cử
Sinh năm 1942
Trưởng Ban
2.
Phaolô Phạm Đình Cảnh
1958 Phó Ban
3.
Phêrô Nguyễn Trung Trực
1952 Thư ký
4.
Phaolô Hồ Thanh Chuyển
1958 Thủ quỹ
5.
Phêrô Lê Văn Huy
1960 Uỷ viên
6.
Maria Nguyễn Thị Xuân
1949 Uỷ viên
TRUNG
TÂM HÀNH HƯƠNG BẰNG SỞ
GIÁO
PHẬN HÀ NỘI
04.6863394
Xin
được sự đóng góp ý kiến để xây
dựng trang Web ngày càng hữu ích hơn.
XIN
CHÂN THÀNH CẢM ƠN ! |